|
Sau khi Chợ Cũ bị thiêu rụi trong một vụ hỏa hoạn lớn, Chợ Lớn Mới được
xây dựng bởi ông Quách Đàm và chợ còn được gọi là chợ Quách Đàm khi ông hiến
ngôi chợ có lối kiến trúc nửa Đông phương nửa Tây phương này cho nhà cầm quyền
Pháp thuộc. Gốc người Triều Châu, họ Quách xuất thân hàn vi, kiếm sống với
nghề mua bán ve chai, da trâu, vi cá và bong bóng cá. Được một số vốn, ông
chuyển qua buôn lúa gạo và ngày càng giàu có. Ông luôn luôn siêng năng, tằn
tiện để “tích tiểu thành đại”, và đã tạo nên Thông Hiệp, một cơ sở kinh
doanh danh tiếng ở khu Chợ Lớn xưa...
Sau ngày 30/4, Bình Tây tiếp tục là chợ bán sỉ (cả bán lẻ) lớn nhất thành phố
và cả phía Nam, giữ vai trò chợ đầu mối cung ứng hầu hết các mặt hàng bách hóa
(nhôm nhựa, vải sợi, túi xách, đồ lưu niệm, mỹ phẩm, một ít quần áo may
sẵn...), gia vị, thực phẩm khô hay đã chế biến.v.v.. Phía sau chợ,
còn có một dãy quán hàng ăn uống. Về nguồn hàng thì lấy từ mọi miền
đất nước và một số nhập khẩu từ Trung Quốc, Thái Lan, Singapore, rồi phân phối
đi các tỉnh, chủ yếu là phía Nam, sang cả Cambốt, Lào và Thái Lan.
Vào năm 2000, trên đường Bãi Sậy tức chỉ cách chợ Bình Tây chừng nửa cây số,
cái lại thấy xuất hiện gọi là “Trung tâm thương mại Bình Tây”, diện tích gần
5000 m2, dự kiến chia thành 100 gian hàng (sạp). Cái kiểu các quận cứ thi nhau
dựng lên các trung tâm này nọ để lấy thành tích báo cáo thì sớm muộn gì cũng
thất bại. Do vị trí không thuận tiện mà còn đòi tồn tại bên cạnh anh
khổng lồ là chợ Bình Tây, trung tâm này chào mời mãi cũng chỉ có chưa tới 40 chủ
thuê sạp . Rồi các chủ sạp cũng sa lầy, buôn bán ế ẩm vì nơi này đã “thanh vắng”
không thua gì chợ Văn Thánh ở Bình Thạnh. Dẹp tiệm vào tháng 8-2004, Trung tâm
thương mại Bình Tây “hưởng dương” được 4 tuổi!
Đúng ra, sự ra đời của cái trung tâm yểu mạng kia là quá dư thừa vì ngoài các
sạp trong chợ Bình Tây, còn có nhiều cửa hàng bán đường đậu, nylon, nước chấm,
mỹ phẩm, trái cây, hàng tươi sống (rau cải và thịt, cá) .v.v. đã tụ hội trên các
con đường bao quanh nhà lồng chợ, là các đường Phan Văn Khỏe, Trần Bình, Chu Văn
An, Ngô Tấn Kế và Tháp Mười. Đó là hình dung cho thật đầy đủ về khu vực chợ Bình
Tây.
Xin trở lại thời hiện tại của ngôi chợ xưa vào bậc nhất của đất Sài Thành...
Dưới ánh nắng tháng 4 khá gay gắt, mấy chiếc bus của nhiều hãng du lịch chen
nhau vào bãi đậu. Hằng đoàn du khách Âu, Á háo hức xuống xe, nón lá trên đầu,
camera và chai nước khoáng lăm lăm trên tay. Khá nhiều ông Tây, bà Nhật lớn tuổi
(thích đi chợ mua sắm?) và một số nam nữ thanh niên “balô” bụi đời (chỉ thích
ghi ảnh?). Một cô người Pháp, tóc vàng rất xinh, hỏi mua mấy trái cầu
lông, loại chơi bằng chân. Cô ra dấu “ba ngàn hai cái” nhưng không đạt ý muốn
khi người bán viết ra giấy “2000VND”. Tôi hơi ngứa nghề Pháp ngữ nên chen vào,
bảo cô ta “Không mắc đâu. Phải mua nhiều, cỡ 10 trái thì mới có giá sỉ là
1500VND. Hay là cô chơi một trái cầu thôi?”. Cô nhìn tôi, cười cởi mở, hỏi “ Tại
sao anh biết các giá cả?”. Tôi đáp là mình thường xuyên mua nhiều thứ ở
chợ này, kể cả những trái cầu đá, để về bán lẻ. Rốt cuộc là cái sạp nọ bán
được...hai trái cầu cho cô khách Pháp xinh xắn, với doanh thu 4000VND mà
không cần phải trả tiền cò gì cho tôi cả vì gã môi giới đã được khách hàng trả
cho nụ cười đẹp mê hồn rồi!
Công bằng mà nói thì tại chợ Bình Tây, từ những mặt hàng cao cấp, mắc tiền
như vi cá, bào ngư, nấm đông cô, cho đến món rẻ bèo như đôi dép nhựa, ký
chôm chôm, người bán rất khi nói thách dù là bán lẻ. Cân đong cũng khá nghiêm
chỉnh. Như một cây 10 kí nấm mèo, 10 kí đậu mè, bạn hàng mua về bán lẻ (cũng cân
nghiêm chỉnh), thường dư ra được nửa trăm hay gần một trăm gờ ram. Đối lại là
chợ Bà Chiểu, trung tâm...cân thiếu, cân gian – nửa kí tôm tươi chỉ là bốn
lạng!
Chen lách giữa dòng người đông đảo, chộn rộn, du khách ngưng ghi ảnh cái tháp
có bốn mặt đồng hồ và hai con rồng ở mặt tiền cổng chợ để tiến sâu vào trong. Ai
cũng thích thú khi bước vào khoảng sân trời giữa chợ, giống như một hoa viên thu
nhỏ, rất thoáng mát và ít nắng. Tại đây, ông Quách Đàm (thường được gọi là
ông Thông Hiệp) ngày trước đã cho đặt một bệ đá ghi ngày xây chợ cùng pho tượng
của chính ông được tạc bằng đồng đen. Vây quanh bệ đá là bốn con sư tử ngậm trái
châu đỏ và bốn con rồng phun nước(đều bằng đồng). Càng tạo ra một tiểu khí hậu
êm ả, mát mẻ hơn khi hai bên còn có hai hồ nuôi cá vàng và thả sen.
Dù sao thì khách nước ngoài cũng thích đến tham quan, mua sắm ở chợ Bình Tây
và các công ty du lịch không quên ghi tên chợ này vào danh mục tham quan trong
các gói tour khi dẫn khách đi quanh Sàigòn. Hình như những màu tóc vàng óng, nâu
đỏ, những ngôn ngữ Âu, Mỹ, dù là do mấy ông Tây da vàụng gốc Nhật, Hàn,
Ấn, Á rập nói ra, một khi đã hòa quyện vào sinh hoạt của người bản xứ đang ồn
ào, tất bật mua bán, đã vô hình trung tạo ra được một vẻ gì phồn vinh, có
qui mô to tát, hứa hẹn nhiều tiềm năng, cho ngôi chợ cũ xưa này.
Nhưng phía sau cái bộ mặt hào nhoáng, sung túc, nhộn nhịp của chợ Bình Tây,
một chợ đầu mối hoạt động suốt từ 2-3 giờ sáng cho đến 9-10 giờ đêm, những người
tiểu thương, người Việt cũng như người Hoa, cùng bám chợ, buôn bán sinh
nhai bao lâu nay, đã phải chịu đựng nhiều gian nan, khó khăn kéo dài.
Trước hết là chuyện thuế má. Cứ bước qua một năm là thuế kinh doanh (được thu
vào đầu hai quí) luôn tăng thêm đều đều 20 – 30%. Cụ thể như sạp P.L. ,
bán tạp hóa trên khu lầu chợ của anh T., năm 2005 đóng 2,500.000đ./tháng, năm
nay 3,000.000đ. Đến loại sạp ít vốn, hàng hóa rẻ tiền, doanh thu
thấp, như sạp bán các loại bánh tráng nằm bên hông chợ của chị N., năm ngoái
đóng thuế 1,000.000đ./tháng, còn năm nay 1,200.000 đ. Buôn bán càng lâu năm ở
chợ thì càng bị áp thuế cao, có sạp đóng tới 4,500.000đ./tháng. Cố sức đạt
chỉ tiêu “năm sau cao hơn năm trước” của trên giao xuống, ngành thuế lạnh lùng
khoán cho từng sạp rồi tận thu, chứ không cần để ý xem bọn tiểu thương chúng nó
đã buôn bán thế nào, có khả năng đóng thuế hay không. Chịu không nỗi thì tiểu
thương chạy lên phòng thuế xin giảm nhưng ít khi được giải quyết. Còn chuyện
“chạy”thuế thì phải nói là càng ngày càng khó, cán bộ ít dám móc ngoặt mà giảm
mức thuế.
Cái khó thứ hai là vốn kinh doanh. Các công ty, cơ sở sản xuất hàng hóa
cũng chấp nhận tập quán lâu đời trong buôn bán là “phải cho gối đầu” tức khách
hàng được trả chậm. Nhưng, như anh chủ sạp tạp hóa P.L. cho biết, công ty
mỹ phẩm và chất tẩy rửa Unilever chỉ cho bạn hàng chậm nhiều nhất là 3 ngày, đến
hạn định này mà chưa thanh toán nợ thì không được mua đợt mới. Đối với vài công
ty như Pin Con Ó, giấy tập Vĩnh Tiến hay đồ nhựa Tân Hiệp Thành thì có thể chậm
trả từ 5 đến 10 ngày. Thực tế là ngày nào cũng có nhân viên thu nợ của các công
ty, cơ sở sản xuất đến thăm sạp của bạn, tạo điều kiện cho bạn trả dần từng trăm
ngàn hay từng triệu, nghĩa là bạn khỏi mất công phải đem tiền đi trả.
“Tử tế” như thế nhưng chính một số công ty công nghệ phẩm lại chơi xấu bạn
hàng của mình. Thay vì để cho những người buôn chuyến mua hàng (do công ty sản
xuất) tại sạp chợ Bình Tây rồi đem về bỏ hàng phân phối ở các chợ vùng xa hay ở
các tỉnh khác, các công ty lại chở hàng xuống tận những nơi đó để bán khuyến mãi
(nên nhớ là các sạp ở chợ Bình Tây rất khi được hưởng khuyến mãi như người tiêu
thụ). Thế là người buôn chuyến mất ăn nên giảm mua hàng tại sạp.
Cứ sáng thức dậy là chủ sạp nào cũng nhớ ngay đến gánh nặng trả tiền mua
hàng. Gánh nặng triền miên ấy vừa nặng thêm khi giá xăng dầu đã tăng thêm 15%
vào cuối tháng 4 vừa rồi. Hàng hóa lại rục rịch lên giá, như giá hàng nhựa
đã tăng thêm 5-6%.
Cái khó thứ ba là tình trạng quay vòng vốn chậm. Cũng do phải tuân theo
tập quán “cho gối đầu”, và còn vì lý do cạnh tranh để thu hút người mua, các chủ
sạp phải cho bạn hàng thiếu lại nhiều hơn, lâu hơn so với các công ty. Nợ cứ ghi
nối tiếp vào sổ, đến ngày cuối năm (ta) thì ráng dặn dò (có lúc phải năn nỉ!)
bạn hàng làm ơn tập trung trả cho sạch sổ, không để đọng nợ qua năm mới. Cũng
vào những ngày cuối năm, chủ sạp bị các chủ cơ sở sản xuất ví đuổi sát rạt. Có
một cặp vợ chồng, chủ một sạp bán lạp xưởng ở đường Ngô Tấn Kế, trưa 30 Tết phải
trốn bằng cách tắt điện thoại di động, đến ngồi lì ở nhà một bạn hàng thiếu nợ
mình nhiều nhất. Khổ nổi người này cũng đang đi thu lại nợ nơi người bán lẻ ở
tận chợ...Bà Rịa! May mắn là đến xế chiều, bạn hàng này về tới nhà, trả
ngay sạch nợ cho vợ chồng chủ sạp . Lúc ấy, vợ chồng họ mới dám quay về
nhà để gặp ông chủ lò lạp xưởng đang ngồi chờ sẵn...
Cái khó thứ tư là mức lời khá thấp. Hiện nay, ở hầu hết các ngành hàng tại
chợ Bình Tây, mức lời chỉ có 1-2 %, Một kí nấm đông cô mua 90,000đ., bán
91,000đ.-92,000đ. (tức nhiên đó là giá ở chợ đầu mối, rồi qua tay người mua về
phân phối và người bán lẻ, đến tay bà nội trợ thì có thể lên đến 100,000đ.). Dễ
hình dung hơn là cứ xuất ra 1 triệu đồng vốn thì chỉ lời có 10,000 đồng. Mức lời
như vậy mà thiếu thận trọng, nhận tiền trả có lẫn vô một tờ 50,000đ. hay
100,000đ. giả thì chỉ có khóc! Do đó, để tự cứu mình, nhiều chủ sạp ở chợ Bình
Tây đã cố gắng tự sản xuất ra một số mặt hàng để bày bán “lấy công làm lời”. Thí
dụ như chủ sạp nấm rơm khô, nấm bông, mì căn, tàu hủ ki.v.v...thì kiếm vốn lập
ra một lò làm tàu hủ ki tại nhà. Đã kiếm lời được từ tàu hũ ki thì chủ sạp này
có thể cạnh tranh các sạp khác bằng cách bán huề vốn vài mặt hàng khác.
Thu hồi vốn chậm, thiếu vốn lấy hàng thì giới tiểu thương có thể đi vay các
chi nhánh ngân hàng với lãi suất thấp (trên, dưới 1%/tháng) nhưng chỉ vay được
“không thấm vào đâu!”, chỉ 10 đến 20 triệu đồng thôi. Ban quản lý chợ thì dành
quyền chứng thực (bắt buộc) hồ sơ xin vay để ăn tỷ lệ do bên ngân hàng chia cho.
Đã ngán ngại kiểu vay ngân hàng thì tiểu thương có thể vay kiểu tín dụng “đen”
nếu chịu nỗi lãi suất tiền góp hiện nay là 0.3 - 0.6 %/ngày, tức cao hơn bên
ngân hàng tới mấy chục lần. Chỉ được cái là có thể vay nhiều, cỡ trăm triệu đồng
trở lên mà không cần thế chấp tài sản. Nhưng sự dễ dàng ấy được bảo kê bằng luật
giang hồ, nên đừng hòng trốn nợ. Trong chợ hiện có các trùm cho vay đang hoạt
động mạnh là các bà H., bà V., chị H.L., bà Tư Đ., bà Tư C.v.v... Năm 2002, chi
nhánh ngân hàng Nông nghiệp cũng thử cho tiểu thương vay trả góp như bọn
tín-dụng-đen, nhưng chẳng bao lâu cũng phải chuyển qua kiểu trả lãi hằng tháng
và trả vốn vào cuối kỳ. Nhân việc chuyển đổi này, ba cô nhân viên đi thu tiền
góp đã ra tòa về tội giữ lại, bỏ túi riêng tổng cộng hơn 2 tỷ đồng mà không nộp
về ngân hàng...
Đối với giới tiểu thương chợ Bình Tây, cũng còn vài cái khó linh tinh khác
nữa, như về khoản chi phí đóng cho ban quản lý chợ. Anh chủ sạp P.L. cho biết
hằng tháng sạp phải đóng các khoản: bảo vệ 90,000đ.,vệ sinh 35,000đ. và tiền
điện tính theo giá điện kinh doanh là 3000đ./kw. Tổng cộng thường là trên
300,000đ./tháng. Một sạp nhỏ, xài ít đèn, ít quạt thì cũng phải trên
200,000đ./tháng. Thế nhưng...Trước hết là về mặt an ninh, trật tự. Chị N., chủ
sạp bánh tráng, kể rằng có lần sạp chị bị trộm trong đêm, mất 15 triệu đồng và
một số hàng. Nghe chị kê khai mất mát, ban quản lý chỉ lẵng lặng ra lịnh cho ba
anh bảo vệ phụ trách trực đêm đó phải lo đền. Kể khổ, kể nghèo đủ điều, rốt cuộc
ba anh này chỉ chịu hùn lại, đền 3 triệu. Xong! Nghiêm trọng nhất là vụ
xảy ra năm ngoái: sạp bán vàng số 21, bảng hiệu Kim Thúy, bị trộm vét sạch
trong đêm tối mà không rõ vụ việc được điều tra ra sao, đền bồi thế nào...Còn
nạn bọn xì ke, bụi đời vừa móc bóp, rạch túi du khách, vừa rình chôm hàng tại
các sạp thì vẫn còn xảy ra lai rai sau nhiều đợt càn quét. Có một thời gian
(hiện giờ thì không còn), ảnh những “gương mặt đen” chuyên ăn cắp, móc túi đã
được dán tại phòng thông tin của chợ để mọi người nhận diện mà cảnh giác.
Kế đó là về mặt vệ sinh, cơ sở vật chất thì nhiều nơi trong chợ còn rất lôi
thôi. Như trên con đường Trần Bình dành cho ngành hàng gia vị, đa số các chủ sạp
đều phải mướn thợ hồ đến nâng cao nền sạp. Đó là việc phải làm sau mùa mưa cách
đây hai năm. Lúc đó, tại chợ Bình Tây, dù không đến nỗi phải dùng máy bơm để cứu
ngập như bên chợ An Đông, nhưng nền dãy sạp ở đường Trần Bình (bên hông
trái chợ) quá thấp nên nước mưa ngập làm hư rất nhiều hàng hoá. Hiện nay, dãy
sạp trái cây nằm trên con đường này vẫn thường xuyên chịu cảnh lầy lội, úng
nước, bất kể ngày mưa ngày nắng. Riêng đường Ngô Tấn Kế (bên hông phải chợ) đã
bị giải tỏa trắng để làm lại từ nền móng, cống bộng, nhằm chấm dứt hẳn tình
trạng nước cống ứ đọng lưu niên. Ngành hàng tôm khô, cá khô, lạp xưởng, tương
chao tại đây đã dọn ra dãy sạp tiền chế, tạm thời ở đường Huỳnh Thoại Yến phía
trước chợ.
Điều đáng để ý là cứ sau một đợt dời chợ để chỉnh trang, nâng cấp, khi sắp
xếp lại thì lại có một số tiểu thương ngưng buôn bán. Điển hình như năm
1998-1999, là đợt dời ngành gia vị từ đường Trần Bình ra đường Cao Văn
Lầu, khi trở lại chợ thì từ danh sách 400 sạp chỉ còn khoảng 360 sạp, rồi rơi
rớt lần hồi, đến nay chỉ còn chưa tới 300 sạp.
Với tất cả những khó khăn nêu trên cộng lại thì thành một bài toán... trừ
thật ảm đạm đối với một số tiểu thương: bỏ chợ! Số trường hợp bỏ chợ ghi nhận
được sau đây chỉ là điển hình, chứ hoàn toàn không đầy đủ. Như sau Tết năm 2002,
chủ sạp Mai Nở bán đồ hộp và gia vị đã bỏ trốn. Tình cờ gặp anh Nở khi anh
lén lút mò đến nhà một bạn hàng thiếu nợ anh, chủ sạp này thú nhận rằng đã
mất khả năng chi trả số nợ tổng cộng đến hơn 300 triệu đồng. Anh khánh tận với
lý do chính yếu là do cho “gối đầu” quá nặng. Một mối hàng rất “sộp” là nhóm
thương buôn ở Hậu Giang đánh ghe lên đậu bến Bình Đông để mua vô số hàng
của anh Nở, giúp anh phất lên nhanh chóng mà vô tư nhập hàng về sạp cho đủ
giao. Những chuyến hàng đầu thì họ chi trả rất sòng phẳng,
nhưng đến một ngày nọ, họ biến mất khi đã nợ anh Nở hàng trăm triệu. Năm 2003
thì có chị Thắm bán gia vị đã bỏ chợ với số nợ khoảng 200 triệu, năm 2005 thì có
chi Diệu biến mất với số nợ gần 300 triệu...Các chủ nợ có truy đến nhà cửa của
những tiểu thương bỏ chợ này thì chỉ thấy nhà họ đã thế chấp hoặc trống trơn, cũ
nát... Riêng đối với ông Phước, một đại gia ngành tạp hóa, chủ một sạp đôi
ở đường Chu Văn An, thì khỏi bàn đến nhà cửa để lại khi thình lình gia
đình ông lên máy bay, xuất cảnh trót lọt và để lại số nợ 1 tỷ rưởi!
Còn số đông tiểu thương vẫn bám chợ thì sao? Một chủ sạp, buôn bán đã 20 năm
trong ngành hàng nhựa-nylon cho biết: “Buôn bán ngày càng khó khăn nên chỉ
có những chủ sạp có kinh nghiệm, liệu cơm gắp mắm, không liều lĩnh trước những
mối làm ăn lớn, thì có thể tránh được nạn vỡ nợ. Nếu đầu ra khá, tức bán được
nhiều hàng thì tạm đứng vững. Nhưng nhiều năm gần đây, khi kết sổ vào đêm giao
thừa, tụi tui thấy chỉ “bình bình”, nghĩa là năm nào cũng vậy, doanh lợi cứ đứng
y một chỗ. Đó là không tính theo giá vàng cứ trượt đều đều hằng năm. Nói chung
là không có chuyện phát tài, dù ông bà mình thường nói là phi thương bất phú,
muốn giàu thì cứ theo nghề buôn bán...”.
Hằng tháng, cứ vào ngày 2 và 16 ta, các chủ sạp ở chợ Bình Tây đều cúng cầu
làm ăn phát tài tại sạp của mình với bánh trái đơn sơ. Đến ngày 28 hay 29 Tết
(tránh ngày cuối năm vì chợ đóng cửa sớm) thì phải cúng tạ ông Thông Hiệp với
phẩm vật nghiêm chỉnh. Tại cái hoa viên giữa chợ, có cái đỉnh đồng lớn đặt trước
bệ đá, lúc nào cũng nghi ngút khói hương. Trong lúc tôi chụp ảnh thì một cụ già
người Hoa đứng bên cạnh tôi cứ trầm ngâm nhìn lên cái bệ thờ đã không còn tượng
ông Thông Hiệp.
Tượng ông chủ chợ nguyên thủy, người xây chợ, còn là vị thần hộ mệnh, hộ tài
của giới tiểu thương làm ăn, kiếm sống trong chợ suốt hơn 70 năm qua (chợ Bình
Tây cất xong năm 1930), đã “được” hạ xuống sau ngày 30/4/1975, lưu lạc qua
các nhà kho của ngành văn hóa thông tin quận 6 và đến năm 2005, thấy tượng đứng
cạnh tượng một nữ thần Hy Lạp khỏa thân, trong sân một khu triển lãm nằm ở
đường Phó Đức Chính gần chợ Bến Thành. Hiện giờ, trên đỉnh bệ thờ
chỉ có một tấm ảnh họ Quách cũ kỹ, cong vênh, bạc màu, được bỏ trong một cái hộp
kiếng nhỏ, trông giống một cái hủ trong suốt dùng để đựng tro cốt người quá cố.
Nếu còn đứng trên bệ thờ thì ông Thông Hiệp có thể nhìn xuống những cảnh đời
muôn mặt. Suốt ngày, tấp nấp đi lại dưới chân ông là hàng ngàn người, hay
hàng vạn người vào các ngày lễ Tết, gồm hổ lốn người Việt người Hoa, ông Tây bà
Đầm, người giàu sang cũng như kẻ nghèo khó. Nhiều lượt, nhiều lần đi ngang bệ
thờ ông là cả tiểu đoàn binh chủng...bán vé số, kẹo sinh-gôm, trà đá. Cũng đi
ngang mà không thèm ngước nhìn ông là vô số những nhân viên công ty đi thu nợ,
những tay chân bộ hạ của các bà trùm tín dụng đen đi thu tiền góp. Riêng cái
nhóm các chủ cơ sở làm hàng tư nhân thì thường tụ tập ở những băng đá xung quanh
bệ thờ ông. Họ ngồi lê la café thuốc lá, lựa vé số, cá độ bóng đá... trong khi
chờ các chủ sạp gom tiền trả nợ cho họ. Cái “cử” nợ hằng ngày đeo đẳng người
buôn bán trong khu vực chợ Bình Tây... |