|
Đã hơn hai thế kỷ qua người ta không ngừng nghe Mozart. Một trong những
bức chân dung đẹp nhất của ông để lại có màu nâu và vàng nhạt, chói lọi ánh sáng
trắng, vẽ ông thuở thanh niên. Cặp mắt to ngước lên, trán rộng, môi thanh tú
tươi tắn, mũi vì nhìn thẳng nên không thấy khoằm, tất cả là đôi mắt, mênh mang,
thông minh tuyệt đỉnh, đa sầu đa cảm, thiên tài mệnh bạc, y hệt như luận đề của
Nguyễn Du.
Tại sao người ta nghe ông mãi? Người ta không yêu một cái gì
không thực sự là gắn bó, thiết thân với mình, như một nhu cầu tất yếu, như tấm
ván vớt thân giữa dòng. Bởi Mozart là người bạn đường trong cuộc đời, người đồng
hành vĩnh cửu, nhà văn hào viết bằng âm thanh mà tiểu thuyết bao trùm hết tất cả
những gì con người có thể cảm nhận trong đời sống, cả hạnh phúc lẫn đau khổ.
Mozart không chỉ miêu tả, ông không ngừng vỗ về, an ủi, mở ra nguồn hy vọng, và
tuyệt vời nhất, nâng tâm hồn ta lên một trạng thái tinh thần khó diễn tả, vốn là
yếu tố quyết định nhất trong việc đánh giá nghệ thuật của ông.
Wolfgang
Amadeus Mozart, chào đời tại Salzbourg bên Áo ngày 27.01.1756. Cha ông, Leopold
Mozart – vĩ cầm thủ trong ban nhạc triều đình đồng thời cũng là nhà sư phạm danh
tiếng, đã cho Mozart và cô chị gái Nannerl tiếp cận âm nhạc rất sớm, hiểu ngay
rằng cậu con trai có tư chất thần đồng. Mới 5 tuổi, Mozart đã viết bản nhạc đầu
tiên cho đàn clavecin. Âm hưởng nhí nhảnh vui tươi này tiên báo phần lớn phong
cách âm nhạc của ông trong quãng đời ngắn ngủi có 35 năm (1756 – 1791) mà danh
cầm Yehudi Menuhin tóm gọn: “Thượng đế cho chúng ta một món quà siêu nhiên rồi
sau đó lại vội vàng cất đi!”.
Năm lên 6, Mozart cùng cô chị đã được ông
bố cho đi trình diễn khắp châu Âu như niềm kinh ngạc xen lẫn thán phục của nhiều
triều đình. Vào cuối thế kỷ 18, toàn cảnh âm nhạc Châu Âu đều như muốn dợm bước
chuyển sang trang mới. Thể nhạc baroque của cung đình và nhà thờ dường mòn mỏi,
nhường chỗ cho một nền âm nhạc có tính quần chúng hơn, phục vụ cho sự đi lên của
giai cấp trung lưu. Gia đình nhạc sư Jean Sebastien Bach đã sang định cư ở Luân
Đôn, thủ phủ của thể nhạc hòa tấu trong nhà. Khuynh hướng mới cũng tạo ra nhu
cầu một thế hệ các nhà soạn nhạc mới, lãng mạn hơn, phổ cập hơn.
Đến Luân
Đôn vào lúc 8 tuổi, thần đồng Mozart cũng đã hiểu được trào lưu này qua giao
hưởng khúc đầu đời của ông. Chỉ 2 năm sau thôi, bản giao hưởng số 10 mang tên
“Kỳ diệu” (mở đầu trầm trọng với cả giàn nhạc và bộ gió rồi tiếng vĩ cầm bỗng
uyển chuyển, nhẹ lén đi vào) đã chứng tỏ bản lĩnh đáng kinh ngạc của một cậu bé
mới lên 10. Cho đến năm 15 thì Mozart đã hoàn thiện tất cả các kỹ năng, và có lẽ
ông chín mùi nhất ở tuổi 25.
Nhưng năm Mozart 14 tuổi cũng là một cột mốc
đáng ghi nhớ. Thấy con đã sẵn sàng cho cả thế giới, ông bố Leopold hiểu rằng
lãnh vực công chúng xác định tài năng và đưa con mình lên đài vinh quang phải là
nhạc kịch. Lúc ấy người Ý đang thống trị opéra ở Châu Âu, và cạnh tranh với
những người như Salieri không phải là điều dễ dàng, nhưng vở opéra đầu tiên của
Mozart “Mitridate Re Di Ponto” trình diễn đã thành công lớn, gây phấn khởi cho
các vở kế tiếp.
Vì vậy mà năm Mozart 17 tuổi, gia đình ông đã đủ sung túc
để dọn đến một khu sang trọng ở Salzbourg trong căn hộ 4 phòng. Mozart đã có thể
ở nhà sáng tác nhiều hơn là đi lưu diễn. Những sáng tác liên tục cho thấy giai
đoạn tập sự của ông đã kết thúc, còn kinh nghiệm soạn nhạc kịch của ông ngày
càng gây ảnh hưởng lớn. Bản concerto cung La trưởng soạn cho đàn violon và
giàn nhạc viết năm 1775 được coi như danh tác đầu tiên thời thanh niên cho thể
loại concerto này. Khi cây solo xuất hiện thính giả đã phải kinh ngạc vì người
gây ý tưởng mới cho cây đàn violon đầy yểu điệu mà không kém phần chững chạc này
lại chỉ là chàng trai mới 19 tuổi.
Kế đó là bản giao hưởng cũng cung La
trưởng, nhạc đề chính mới nghe đã phải thích ngay, mở đầu như bâng khuâng, như
tự hỏi. Bởi chàng thanh niên Mozart cũng bắt đầu biết yêu, bị từ khước và đau
khổ. Năm 1778, Mozart cùng mẹ đến Paris, một trong những kinh đô âm nhạc của
Châu Âu, bởi cha ông vẫn chưa thấy con mình được một chức vụ nào tương xứng. Hai
mươi hai tuổi, Mozart hiểu rằng ông phải chinh phục công chúng Paris, bản giao
hưởng mang tên thành phố này rõ ràng được viết đầy chủ ý với hai hành âm đầu và
cuối cả giàn nhạc được chỉ định phải chơi thật lớn. Nhưng đây cũng là lần đầu
tiên Mozart biết đến thảm kịch, khi ông đang viết thư cho cha khoe thành công
của hòa tấu khúc thì mẹ ông qua đời ở phòng bên cạnh. Đây cũng là minh chứng về
tính tiên tri của người nghệ sĩ, hành âm cuối rất khó diễn tấu, nhưng cả giao
hưởng lại da diết, sâu sắc như linh cảm bi kịch.
Không nơi nào ở Pháp cho
Mozart một vị trí xứng đáng, năm 1779 ông lại phải trở về quê nhà Áo. “Sao mà
tôi ghét Salzbourg thế !” Mozart viết như vậy trong một bức thư, “Salzbourg
không có opéra, không có nhà hát, đây không phải là chỗ xứng đáng với tài năng
của tôi!”. người đã từng là vinh quang của Châu Âu nay trở về sống dưới ảnh
hưởng của ông bố trong một tỉnh lẻ. Giải đáp duy nhất cho tình thế khó khăn này
là thủ đô Vienna.
Năm 1780, vua Joseph Đệ Nhị lên ngôi kế tục cho vương
triều Habsbourg, vị hoàng đế say mê âm nhạc này sẽ khiến Vienna trải qua mấy
thập kỷ huy hoàng nhất trong lịch sử kinh thành. Ông giải phóng nông dân, cắt
quyền lợi quý tộc và đưa giai cấp trung lưu lên cao. Quan trọng nhất là Joseph
Đệ Nhị đề cao tự do ngôn luận. Tháng 6 năm 1781, Mozart đến Vienna đúng lúc đạo
luật này được ban hành. Quảng trường lớn lót đá thô với nhà thờ đặc trưng kiến
trúc phương Đông cho đến ngày nay vẫn hầu như còn nguyên như lúc Mozart đến. Ông
hiểu rằng đây chính là nơi ông chờ đợi, bởi cho đến lúc đó Vienna là nơi tự do
nhất, trí thức nhất và hấp dẫn nhất của cả Châu Âu. Chỉ 3 tháng sau khi đến
Vienna, Mozart đã viết xong vở nhạc kịch “Bắt cóc ở Hoàng Cung”, đặc biệt đây là
vở opéra bằng tiếng Đức, thay vì thông thường bằng tiếng Ý. Đó cũng là bởi chính
hoàng đế Joseph Đệ Nhị muốn đây phải là một biến cố có tầm cỡ quốc gia, một vở
opéra bằng tiếng Đức. Trái hẳn với truyền thống baroque cũ, Mozart là người rất
am hiểu việc viết cho giọng hát phải như thế nào, và vở nhạc kịch đã đánh dấu
thành công của ông ở Vienna. Ông sớm gia nhập giới trí thức ở đây và trở thành
hội viên Tam Điểm. Thật ra mục đích chính của hội này cũng chỉ là để truyền bá
ánh sáng của khoa học và triết học mới, nhất là những thành tựu tinh thần từ bên
Pháp. Những bản concerto cho đàn piano đẹp nhất của ông cũng được viết trong
thời gian này. Xuất hiện trước thính giả Vienna, Mozart cùng lúc đóng 3 vai trò
: nhà soạn nhạc, người trình tấu đồng thời cũng là người biến tấu ngẫu
hứng.
Năm 1782, Mozart cưới cô Constanze Weber dù cuộc hôn nhân không
được ông bố Leopold chấp thuận : “Cô ta không đẹp và cũng không xấu, nhưng cô ta
yêu tôi và tôi yêu cô ta, tôi còn mong gì hơn?”. Trong lần trở về thăm cha ở
Salzbourg như để hòa giải, Mozart viết bản “Thánh lễ cung Do thứ” như sự sám hối
tội lỗi đã làm cho ông bố buồn. Từ đó ông không bao giờ trở lại quê nhà
nữa.
Tại Vienna, Mozart vẫn không ngừng được kích thích bởi những ý tưởng
mới, các bản tứ tấu và ngũ tấu trong thời gian này như xúc tích hơn, già dặn
hơn. Danh tiếng và vinh quang, ông cùng vợ dọn đến ở tại khu trung tâm, trong
căn nhà sau này mang danh “Ngôi nhà của Figaro”. Ông bố Leopold đến thăm vợ
chồng một lần vào năm 1784, nhạc sư Haydn cũng là khách thường xuyên, còn phải
kể một lần có vị khách đặc biệt là nhà soạn nhạc đến từ Bonn bên Đức mới 16 tuổi
: Ludwig Van Beethoven. Cột mốc trong thời gian này là vở nhạc kịch “Đám cưới
Figaro”, nhưng thành công ở Vienna không thể so sánh với cơn bão ở Prague, thủ
đô Tiệp Khắc, nhà hát nơi Mozart trình diễn vở này cho đến nay vẫn còn nguyên.
Tính cách mạng của vở này đầy sức tiên tri vì chỉ 3 năm sau là cuộc cách mạng
1789 ở Pháp bùng nổ làm rung chuyển cả Châu Âu.
Không từ bỏ nguồn vui
sáng tạo, Mozart viết một bản giao hưởng mang tên Prague như để đền ơn thành phố
mến mộ ông, và sau đó vở nhạc kịch vĩ đại “Don Giovanni” cũng mang đặc tính chất
Tiệp. Dư luận chê Mozart đã đi quá xa những định chế luân lý khi tạo ra một nhân
vật phóng túng, nhưng chương cuối khủng khiếp với ba giọng hát và hai giàn nhạc
chồng lên nhau của vở này có lẽ sẽ còn đọng mãi trong ký ức của người yêu âm
nhạc.
Năm 1787, người cha của Mozart qua đời, cũng là năm đánh dấu bước
ngoặt bi thảm trong đời ông. Kinh tế Vienna sa sút, Mozart đã qua tuổi 30, không
còn là bộ mặt mới mẻ của kinh thành nữa, gió đã xoay chiều với ông, những đề
nghị viết nhạc vơi dần. Chỉ riêng trong mùa hè năm 1788, ông đã viết rất nhanh
xong 3 hòa tấu khúc cuối cùng, trong đó nổi bật nhất là giao hưởng mang số 40
cung Si thứ (K550). Khó ai có thể cưỡng được một cảm xúc âm nhạc mãnh liệt khi
hành âm Molto Allegro đầu cất lên, dù được viết trong một hoàn cảnh khó
khăn.
Năm 1791, như ngọn đèn loé sáng trước khi tắt, Mozart lại thành
công với vở “Cây sáo thần” và vẫn hạnh phúc với vợ và hai con trai, dọn đến một
chỗ ở mới. Các đơn đặt hàng lại đến, trong đó một công tước góa vợ đặt viết bản
“Cầu hồn”, một Requiem không bao giờ hoàn tất vì vào ngày 18 tháng 11 ông lâm
trọng bệnh, có lẽ là chứng suy thận nặng, ông chết ngày 05.12.1791. Lúc đó ở
Vienna lại có bệnh dịch lây lan và không chắc ông qua đời vì bệnh dịch này
không, chỉ đau xót rằng người ta đã chôn ông vội vàng cùng với nhiều người bị
dịch khác trong hầm mộ tập thể. Vì thế ông đâu có yên nghỉ dưới ngôi mộ đẹp lúc
nào cũng đầy hoa như ngày nay, trang trí bằng một cây cột ionique gẫy, một thiên
thần tay bóp trán suy tư đứng tựa ở dưới. Nhưng ông yên vị mãi trong con tim của
những người yêu quý ông, và Haydn bảo sau khi Mozart chết: “Có lẽ cả trăm năm
nữa thế giới cũng không thể biết thêm một thiên tài tương tự”.
Mozart
không chỉ để lại một gia tài âm nhạc đồ sộ. Vượt lên trên những ganh ghét đố kỵ
tầm thường của người đồng thời, ông chỉ cặm cụi với niềm đam mê duy nhất, để lại
tấm gương muôn đời rằng, muốn bước vào ngôi đền nghệ thuật thì phải có tài và
một cái tâm trong sáng, như trẻ
thơ.
|