|
Riêng trong bản tin hiếm hoi trên trang web thuvienhoasen.org, một báo
điện tử chuyên đề về Phật giáo, có đăng thiên phóng sự dài “Đại lễ cầu siêu cho
toàn dân Việt đã khuất từ khi dựng nước”. Người viết Phạm Cường tường thuật tỉ
mỉ rằng trong lễ cầu siêu màu mè này, người ta khánh thành luôn cái nhà truyền
thống và đặt cái tên cưỡng ép là Đại Nam Quốc Tự (?), nhưng lại không có một
dòng nào nói đến sự việc trên Phật đài trong chánh điện có đặt tượng Hồ Chí Minh
(cùng với lá cờ đỏ sao vàng bên cạnh) thờ chung với tượng Phật. Oái ăm là, trong
những tấm ảnh đăng kèm theo bài viết (người chụp là Phan Công) có đến hai tấm
chụp chính diện và cận cảnh tư thế các pho tượng. Có lẽ trình độ tác nghiệp của
nhà báo Phạm Cường kém cỏi nên đưa tin không đầy đủ, chính xác, hay không biết
khai thác cái chi tiết rất “nóng” là tượng Hồ Chí Minh ngồi chễm chệ trước tượng
Phật Thích Ca. Đúng hơn, có lẽ cũng giống trường hợp các báo Sàigòn,
thuvienhoasen.org đã có chỉ đạo buộc phải quên đi mọi chi tiết liên quan đến các
pho tượng trên Phật đài...
Đã tự minh danh ở trang chủ rằng chỉ “phổ biến giáo lý giải thoát của đức
Phật Thích Ca Mu Ni đến với tất cả mọi người ở mọi nơi”, website Thư Viện Hoa
Sen còn nói rõ là những người chủ trương tờ báo điện tử này “được sự cố
vấn, khuyến khích và giúp đỡ của quí vị tôn đức ở VN và hải ngoại và được trực
tiếp điều hành bởi một ban biên tập gồm các cư sĩ tự nguyện, vô vụ lợi, hoàn
toàn độc lập, không trực thuộc hay đại diện cho một hệ thống tự viện hay một tổ
chức Phật giáo nào”. Hình như trang web tôn giáo này muốn bảo vệ chủ trương “độc
lập”, phi chính trị của mình, thà chịu mang tiếng có thiếu sót rành rành về
chuyên môn thông tin trong một bài phóng sự về việc đạo (lễ cầu siêu) còn hơn là
mang tiếng tham gia tuyên truyền về việc đời (đặt tượng lãnh tụ). Và cũng có
thể, nếu xuất phát từ những ý kiến phê phán nhất định từ những vị cư sĩ trung
thực, độc lập đang điều hành trang web, thì không thể nào trang web lại đưa tin
về một sự kiện thời sự mà (không tiện) đăng kèm theo nhận định riêng của ban
biên tập.
Bên cạnh đó, chỉ tiếc là Thư Viện Hoa Sen lại kiêng luôn cả việc ít ra là có
thể đưa ý kiến – có tính chất một giác thư - về một chuyện nằm trong lãnh vực
tín ngưỡng, đó là việc phải đặt câu hỏi về việc nhà truyền thống văn hóa lịch sử
Đại Nam gì đó, có chính danh đúng theo qui cách cổ truyền của chùa chiền, “cửa
Phật”chính thống nói chung hay không, mà lại được gọi là quốc tự? Rồi lại còn
kiểu thờ đấng giáo chủ linh thiêng (Thích Ca) chung với những người phàm, dù là
các nhân vật lịch sử, chính trị nổi tiếng như Hùng Vương, Hồ Chí Minh v.v..?
Ngay với một đạo có thờ cùng lúc các giáo chủ của các tôn giáo lớn khác như
Thích Ca, Thái Thượng Lão Quân, Jesus, Khổng Tử… như đạo Cao Đài , thì tại Thánh
thất ở Tây Ninh chẳng hạn, đã có qui định đối với du khách đến tham quan là chỉ
được chụp ảnh, quay phim phía bệ thờ “Con Mắt Thiêng” tức Cao Đài Thượng Đế, khi
không còn một người phàm nào, kể cả các vị chức sắc trong đạo, lai vãng phía
trước bệ thờ.
Như thế mới thấy rằng dù có được sơn son thếp vàng thật lộng lẫy đi nữa thì
tượng Thích Ca cũng đã bị thờ lộn chỗ vì cái “quốc tự” hoặc nhà truyền thống kia
chỉ là một ngôi chùa giả, thoát thai từ một ý đồ dung-tục hóa hình ảnh đức Phật
thiêng liêng. Rồi theo cách lý giải như vậy, vị sư được đề bạt chức trụ trì ngôi
“chùa” này cũng bị biến thành thầy chùa giả, vì đệ tử Phật môn chân chính chỉ
đảnh lễ trước Phật mà thôi.
Bên ngoài các chùa chiền, tịnh thất hiện nay cũng có dẫy đầy những thầy chùa
giả. Với y vàng, y nâu đủ kiểu, các sư, ni già trẻ đủ hạng tuổi đã chậm rãi đi
“y bát” khất thực ngoài đường phố, hoặc luồn vào các ngõ hẻm gõ cửa nhà người
dân để mời mua nhang đèn, kinh kệ. Càng bay mùi tiền bạc đáng ngờ là khi các vị
tu giả này, không xin gạo, nước tương hay trái cây, mà chìa ra một tờ thư ngỏ
kêu gọi, một tờ quyết định thành lập (có khi chỉ là bảng photo không có chứng
thực) gì đó để đánh vào lòng hảo tâm của bá tánh, xin ủng hộ tiền bạc làm việc
thiện, giúp cơ sở của nhà chùa nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật v.v.. Sư thật và
sư giả cứ lẫn lộn nên những người có lòng thành muốn cúng dường không biết đâu
mà mò và vì vậy, họ có một sự hoài nghi và phẫn nộ chính đáng khi biết niềm tin
của mình bị lạm dụng bởi những kẻ giả danh lừa đảo.
Vào năm 2005, ở Sàigòn đã xuất hiện cái kiểu “cả làng ăn mày” từ một
tỉnh ngoài Bắc được tổ chức vào “hành nghề” trong miền Nam với hệ thống đầu nậu
và có phân bố địa bàn hẳn hòi. Đó là kiểu làm ăn của bọn mafia “trùm ăn mày” lợi
dụng lòng trắc ẩn thường có của mọi người trước những đồng bào nghèo khó, cơ cực
để... kinh doanh. Và dù nằm trong đường dây tổ chức đi xin ăn tập thể, những
người già, em bé từ ngoài Bắc vào cũng là những con người nghèo khổ thật
sự. Nhưng đến màn bọn giả danh tu hành , trùm áo cà sa vô mà biến
tấu từ dân nghèo “hành khất” sang thầy chùa “khất thực” thì rõ ràng đã là
trò lừa đảo thật thụ! Lần này thì bọn xấu đã làm ăn, trục lợi đen tối trên tín
ngưỡng, đức tin Phật giáo cùng sự kính trọng của giới Phật tử đối với những vị
tăng, ni.
Có người nói chắc chỉ có vài người nghèo, không có nghề ngỗng, vốn liếng gì
hay biếng nhác lao động mới giả danh tu hành để đi xin ăn. Thưa rằng sự thật
không hẳn như thế. Như trường hợp một anh làm đến chức xà lan trưởng trong đội
xà lan chở gạo của Công ty vận tải thuộc Tổng công ty Thu mua Lương thực II năm
nào… Anh ta đang khá giàu có nhờ mánh mung trong công tác chở gạo cho một trạm
thu mua ở vùng Thốt Nốt (lúc ấy còn thuộc tỉnh Hậu Giang) thì dần dà vì hiệu
năng chuyên chở quá kém so với tư nhân nên Công ty vận tải bị giải thể khi Thốt
Nốt sát nhập vào thành phố Cần Thơ. Lãnh trợ cấp nghỉ việc xong xuôi, anh xà lan
trưởng không thèm tiếp tục làm cho nhà nước. Tình cờ gặp lại anh tại Sàigòn, bạn
bè ở cùng công ty cũ mới ngã ngửa khi thấy anh đang… cạo đầu, khoác áo cà sa còn
mới toanh. Té ra, anh đã để lại nhà cửa, vợ con dưới Cần Thơ để về Sàigòn đất
rộng người đông mà trổ tài mánh mung kiểu khác: giả thầy chùa đi khất thực!
Tệ nạn làm ăn, trục lợi trên tín ngưỡng của người dân còn xuất hiện từ lâu ở
phía Bắc. Vào các kỳ lễ hội, cúng vía nơi các ngôi chùa cổ xưa, nổi tiếng hay
các thắng cảnh tôn giáo, lịch sử như hội chùa Hương, chùa Trấn Quốc, đền
Hùng, phủ Thánh mẫu nương nương v.v.. đã từng có hiện tượng bọn lừa đảo lén lút
dựng lên những ngôi chùa giả, đền giả xung quanh những ngôi chùa, đền thật, rồi
đặt thùng thu tiền công đức của những người ngây thơ, nhầm lẫn. Chính quyền địa
phương đã ra thông báo cảnh giác khách hành hương, vạch mặt bọn “chùa giả, chùa
xạo” và cũng rất khó khăn khi ra tay triệt hạ những ngôi chùa giả, đền giả
này.
Cũng chính vì nạn dựng chùa miếu, giả bộ tu hành hay có tu thật chút đỉnh
cũng chỉ nhằm thu tiền công đức, ủng hộ của khách thập phương ghé cúng bái mà từ
hai năm trước, một số địa phương đã mở chiến dịch dọn dẹp, thanh lọc, nhất là
đối với những chùa, miếu mới dựng lên. Có thành phố Vũng Tàu làm khá mạnh tay.
Sau khi kiểm kê, điều tra cho phân minh quá trình tu hành, qui y của những người
lập ra những chùa, thất, miếu, cốc... đủ cỡ lớn nhỏ trên núi Lớn và núi Nhỏ, mấy
chục “cơ sở” tu hành giả tạo, thiếu chân chính đã bị giải tỏa trắng, nhất là
trên núi Lớn.
Tuy nhiên, có một trường hợp đã gây cho tôi nhiều suy nghĩ là dịp ghé thăm
Tháp Bà ở Nha Trang vào giữa năm 2005. Tại nơi thờ phượng (thật chứ
không phải giả!) đức Bà Thiên Y này, tôi bị một ông già mời gọi cúng tiền vào
một cái thùng nhỏ nhắn mà ông gọi là “để chăm sóc, nhang đèn cho Bà”. Tôi bèn
hỏi về cái thùng tiền do bên ngành văn hóa – thông tin kê ngay chính điện thì
ông già bảo là “mấy ổng thâu vô chỉ để sửa chữa cho mấy cái tháp mà thôi chớ ít
chịu chi về nhang đèn, nước nôi cúng Bà!” Cảm thấy có uẩn khúc gì đây, tôi cúng
một ít tiền và từ tốn hỏi thêm mấy câu. Lúc này ông già mới thú thật, rằng ông
sống như tu hành, đã làm công việc quét tước, nhang đèn ở đây từ lâu lắm rồi và
có hưởng nhờ một phần tiền cúng Bà của khách thập phương. Nhưng từ khi ngành văn
hóa thông tin dành quyền thu tiền công đức, ủng hộ thì không hề cho ông một suất
lương bổng hay trợ cấp nào để sinh sống. Cho nên ông phải đành lập ra một thùng
bán-chánh-thức (có giả danh là dành để cúng Bà) để nài xin người ta nhín cho
chút đỉnh…
Một phụ nữ lớn tuổi, đã cạo đầu tu tại gia nhiều năm, còn gặp phải nhiều khó
khăn hơn khi muốn vào tu hẳn trong chùa, qui y ăn mày cửa Phật. Gặp bà tại một
tiệm photocopy ở Thốt Nốt, tôi hỏi: “Sao dì phải phô nhiều bản sơ yếu lý lịch
vậy? Nộp cho chỗ nào?” Bà sa sầm nét mặt, cho biết đây là những bản sơ yếu lý
lịch, theo mẫu đặc biệt của Mặt trận huyện, do mấy thầy ở ngôi chùa mà bà xin
vào qui y phát cho. Sau khi đã nộp những bản này, các thầy sẽ yêu cầu bà phải
học thuộc ít nhất 10 bộ kinh để chờ ngày quí thầy kiểm tra. Nhưng thuộc kinh
không thì chưa đủ để được chấp thuận vào tu trong chùa. Có người đã chỉ mánh cho
bà là còn phải biết “lạy quí thầy, quà quí thầy” nữa. Nghĩa là phải bà chuẩn bị
những phần quà, kèm theo phong bì hậu hĩnh cho từng thầy trong đoàn “giám khảo”
sát hạch kinh kệ thì mới “đậu” vô chùa!
Người Sàigòn còn có thể dễ dàng nhận ra diện mạo của một số nhà sư, già có
trẻ có, đã tu hành thật sự nhưng tâm tu và đạo hạnh đã bị băng hoại vì cứ vọng
động chuyện kiếm phong bì. Các thầy này chuyên ngóng trông Phật tử đến mời đi
tụng đám ma, đám cúng thất, đám giỗ. Cung kính bù trả cho công lao của quí thầy,
chủ nhà đám không cần chú ý nhiều đến những bữa cơm chay mà chỉ cần chú ý đến
phần “lễ” cho từng thầy. Đó là những phần quà gồm vải may áo tu, xà bông thơm,
khăn lông, dầu xanh Con Ó, trà, bánh v.v.. tùy theo khả năng chủ gia nhưng nhứt
định không được phép thiếu cái phong bì.
“Thời giá” như thế nào? Cứ thật thà hỏi nhỏ các chủ gia đã từng thỉnh quí
thầy đến nhà. Thường thì 300 ngàn đồng trở lên cho thầy cả, tụng chính cho tang
lễ, và 200 ngàn đồng trở xuống cho các thầy tụng phụ, lo phần gõ mõ, gõ chuông.
Cứ hậu hĩnh thì quí thầy sẽ để lại danh thiếp, số điện thọai để mai mốt khi nào
cần thì tiện việc liên lạc, mời riêng…
Trong khi các nhà sư chân chính khác, lo tu trì đạo hạnh bản thân và ra ngoài
góp phần “độ sinh” tức làm việc xã hội, cứu tế người nghèo khó, khuyết tật thì
mấy thầy lạc đạo kia chỉ thích “độ tử”, tức cạnh tranh với các thầy tụng chuyên
nghiệp tại các đám ma, đám cúng, hầu kiếm phong bì, y như những cán bộ biến
chất, tham ô. Hám lợi như vậy thì cũng không khác mấy với các thầy chùa giả đi
khất thực ngoài đường!
Và người viết bài này không rõ “đại gia” Huỳnh Phi Dũng thuộc loại giả hay
thật. Mà dù giả hay thật, khi là đại gia thì phải làm chùa cho lớn mới xứng chứ.
Lại còn đem tượng “Bác” vào để bảo kê cho cái Đại Nam Quốc Tự thì đố ai dám động
đến. Quả là một cú “công đức đểu” vào bậc thượng thừa!
|