|
Nếu quan niệm đó đúng, thì tại sao người Nhật lại tin rằng, những ai sinh
nhằm tuổi Tuất, đều được tạo hóa ban phát cho hết thảy mọi nết tốt của con người
với đức tính chân thật, trung thành, ngay thẳng, luôn biết nghĩ tới bổn phận.
Điều này cũng dể hiểu, vì hơn bất cứ giống vật nào khác,bẩm sinh loài chó đã có
khuynh hướng yêu thích và trung thành với người. Thêm vào đó, Chó được chủ cưu
mang, vuốt ve trìu mến, chia sớt buồn vui như moi kẻ thân thuộc khác trong gia
đình. Bởi vậy để đền ơn đáp nghĩa, nó đã tận dụng hết khả năng kể cả mạng sống,
bảo vệ và cứu chủ khi bị nguy khốn. Hy Lạp ngày xưa vốn khinh ghét Chó, vậy mà
phải thay đổi tập quán, sau khi đọc tác phẩm ‘ IIIiade ‘ của Homère, kể lại sự
trung thành thương mến của con chó Argus, đối với người chủ Ulysse, sau 20 năm
ly cách. Cuối cùng đã chết vì mừng và kiệt sức sau thời gian dài đi khắp nơi tìm
chủ.
Nhưng chính người La Mã là dân tộc đầu tiên nuôi dạy và khai thác lòng
can đãm tự nhiên của loài Chó trong khi chiến đấu. Ngay thời thượng cổ, Chó đã
biết cách mang thông điệp truyền tin, được xữ dụng như một người lính chiến đấu,
bằng các loại vũ khí như vòng cổ bằng sắt, giáo nhọn được cột chặt bên đùi hay
trên lưng. Tàn nhẩn nhất là cho chó mang các mồi lửa, xua chạy vào dinh đối
phương, để đốt trại như Điền Đan thời Chiến quốc, đã dùng ‘ Hỏa Ngưu Trận’ khi
đánh nhau với nước Yên. Ngoài ra như Fernand Méry đã viết trong ‘ Le chien et
son mystère ‘, lợi dụng tính háu ăn của chó, người ta bắt nó nhịn đói nhiều
ngày, trưóc khi xung phong ra trận. Còn người Pháp thì cho là tổ tiên mình ( dân
Celtes và Cunbres), đã khám phá đầu tiên các đặc tính của chó như thông minh,
nhạy cãm, lòng can đãm chịu đựng, nên chó đã được xử dụng để săn nai và heo
rừng. Năm 719 sau tây lịch (STL), hoàng đế Pháp ra sắc chỉ phạt tiền từ 40-50
sols, một gia tài rất lớn thời đó, cho bất cứ ai giết chó. Vì ham thích thú đi
săn, các nhà quý tộc Pháp thời trung cổ, đã không ngừng tạo ra các giống chó
mới. Chính các tu sĩ tại tu viện Saint Hubert vùng Ardennes là tác giả lai giống
chó săn khỏe mạnh Saint Hubert, còn tồn tại tới ngày nay. Cuối thế kỷ XVI sau
tây lịch (STL), học theo cách của Ý, vua Henri 8 của Pháp cũng cho thành lập một
tiểu đoàn quân khuyển 500 con, khi đánh nhau với quân của Charles Quint.
Rồi một con chó thuộc giống Malabar, tên ‘ Suening ‘ đã làm vua Na Uy
năm 1020 (STL). Một con chó khác không có tai và đuôi, tên Hungary, đã trị vì
nước này và tên của nó được tồn tại cho quốc gia Động Âu trên tới ngày nay. Các
Hoàng đế Pháp như Louis II làm vòng đeo cổ bằng vàng và hồng ngọc cho chó
Cherami. Còn vua Charles 8 và Francoi I, không có chó bên canh, thì không ngủ
được. Độc đáo nhất là Nam tước Lisoire de Montmorency, đòi thành lập huân chương
cho chó (ordre du chien), dành cho những quân khuyển can đảm trung thành. Mãi
tới thời phục hưng trở về sau,chó mới được phái nử chiếu cố tận tình.
Tóm lại Pháp là nước đứng đầu về khoản cưng chiều chó, đồng thời cũng
chiếm kỷ lục khắp Châu Âu với 17 triệu chó + mèo ( Anh 14 triệu, Ý 12 triệu..)
với chi phí chăm-nuôi, tốn 3,3 tỉ đô la Mỹ, hằng năm. Chỉ riêng phần nuối
chó Pháp, đã có tới ba công ty sản xuất thực phẩm chó là Mars-Unisabl (Hoa kỳ),
Nestlé ( Thụy Sĩ) và Royal Canin (Pháp). Từ tháng 11-1999 công ty điện thoại di
động Nhật, đã bắt đầu dịch vụ mắc điện thoại cho chó liên lạc với người, hoạt
động ngày đêm.
Loài chó cũng là nguồn cảm hứng của các nhiếp ảnh gia nổi tiếng, như
Nicole Lauroy, qua các hình ảnh độc đáo của loại chó săn Mỹ Cocker,mặc áo lông
mịn màng và dày, để dự thi hoa hậu ‘ chó ‘ . Nhưng không có nơi nào thích làm
những chuyện đồng bóng, giựt gân bằng Hollywood, khi một đám cưới rình rang có
50 khách mời, được tổ chức vào tháng 5-1996., giữa tân lang chó ‘ Tippy’và nàng
cẩu ‘ Roxie ‘. Cô dâu chú rễ chó, được ăn mặc đồ cưới như người, hai đàng có hứa
hôn ước qua mấy tiếng ‘ gâu gâu’ và cuối cùng Mục sư nhân danh quyền hạn được
tiểu bang California ủy thac, tuyên bố hai chó trên chính thức thành vợ chờng.,
tới răng long đầu bạc. Sau ngày tân hôn, vợ chông chó được chủ, mời đi hưởng
tuần trăng mật, thưởng thúc các món ăn thượng hạng dành cho chó tại Nhà hàng
Café Park Bench ( Ghế Đá Công Viên) ở Los Angeles và ngủ trong siêu khách sạn
Four Season, ở khu sang trọng Beverly Hill (CA), đây là nơi duy nhất có thực
đơn, dành riêng cho quý khách ‘ chó’, cùng dịch vụ dắt chó đi dạo cho tiêu cơm
sau khi ăn uống no nê,do các hầu bàn trong khách sạn đãm nhận. Cũng tại
Hollywood còn có một thám tử tư tên Sherlock Bones, chuyên môn sùng lục các con
chó cưng bị thất lạc hay bị đánh cắp, tiền công mỗi ngày chỉ $350.US chưa kể
thuế ..
Nhưng không phải lúc nào chó cũng vui và tốt phước như tại các nước
phương tây và Nhựt Bổn. Hầu hết các nước khác trên thế giới, luôn coi chó là
loài súc sanh, nên hành hạ thậm tệ, lại còn xẻ thịt để ăn. Tại Hàn quốc, ngành
kinh doanh thịt chó gần như hợp pháp, vì quan niệm của nước này ‘ ăn thịt chó là
truyền thống ẩm thực, hơn nửa thịt chó cung cấp nhiều chất protein, có thể thay
thế thịt bò mắc mỏ khan hiếm ‘. Nước này, mỗi năm tiêu thụ vài chục tấn thịt
chó, nhất là vào mùa hè nóng nực. Người Hàn nuôi chó trong chuồng và hạ thịt
bằng cách treo hai chân chó trên cành cây, rồi đánh vào thân chó cho thịt mềm.
Ở VN, người miền Bắc và Bắc Trung Phần, có quan niệm ‘ sống trên đời không
được ăn miếng dồi chó, mai thác xuống âm phủ, kiếp sau đầu thai không được làm
người dân xã nghĩa..’. Trong khi đó thì một nhà văn nử Hoa Kỳ Elizabeth . M.
Thomas, khi nghiên cứu về thế giới nội tâm của loài chó , đã viết ‘ nếu ở cõi
thiên đàng không có sự hiện diện của loài chó, nơi ấy không còn là thiên đàng
‘.. Quả thật bước vào thế giới kỳ lạ của loài chó, khiến ta không biềt đâu mà
mò, cho nên người đời mới nói ‘ Lên voi, xuống chó là vậy ‘ .
1-HỌ CHÓ :
Họ chó nằm trong bộ động vật có vú, chiếm địa vị quan trọng nhất trong
loài có xương sống, tuy số lượng ít hơn so với các loài khác. Thế giới ngày nay
có chừng 4000 loài động vật có vú, sống khắp trái đất, không trung và biển cả.
So với các loài khác, bộ có vú đã trải qua quá trình tiến hóa lâu dài nhất, nên
hình thành được nhiều cấu trúc vật chất và các chức năng sinh lý phưc tạp như
lông, răng, các màng nhầy phân cách ngực bụng, thở bằng phồi và tim có 4 ngăn.
Tiếng La Tinh dùng để chỉ bộ có vú là ‘ Mamma ‘, ngoài nghĩa ‘ vú’, còn
nói lên đặc tính sinh con và nuôi bằng sửa. Bộ này gồm ba loại lớn : động vật
đơn khổng, động vật có túi và động vật có cuốn rốn. Họ chó thuộc loại có cuốn
rốn, nằm trong bộ có vú.
Họ chó có từ lâu đời nhưng tới nay nhân loại cũng chưa biết rõ nguồn
gốc của nó một cách chính xác. Tóm lại qua những nghiên cứu lâu dài của các nhà
động vật học, cho biết chó nhà, có xuất xứ từ ba nhóm chó ăn thịt như chó
rừng (chacal), chó sói (loup) và cáo (renard). Qua kiểm tra của các nước, hiện
có chừng 100 triệu chó đủ loại, trong số này Pháp chiếm 7 triệu con. Tuy nhiên
nếu tính luôn các nước thứ ba, thì số chó hiện hữu có thể hơn 300 triệu con.
Phát triển nhất trong họ chó là chó nhà, được lai giống từ loại chó săn lùn chân
ngắn Basset, xuất hiện hơn 2100 năm trước tây lịch, chó Pointers là sự lai giống
giữa hai nòi chó săn thỏ Anh (levrier) và chó săn Pháp Droppers, con cái của nòi
chó săn Đan Mạch là Pointers và Setters. Thêm vào đó, còn có giống chó săn lai
Wolsh Corgis, là con cháu của loài chó giữ trại và chồn (renard). Tóm lại
ngày nay chó có hơn 200 giống, chia thành bốn loài : 1-Lupoides (chó sói –loup),
2-Bracloides (chó săn-braque), 3-Gracoides (chó săn thỏ-levrier), 4-Molossoider
(chó giữ nhà, đầu to mõm dẹp-dogue). Ngoài ra chó nhà còn được chia thành ba
ngành : chó cảnh (chiens d’agrément), chó hữu dụng (chiens d’utilité và chó săn
(chien de chasse).
Theo các nhà biên khảo,thì con thú rừng đầu tiên được thuần hóa ở trong
nhà, chính là con chó , hậu duệ của loài chó rừng lông vàng, theo tiếng
Latin là Canis Aureus, nhằm vào thời kỳ đồ đá. Lúc đó ở Bắc Âu, người ta cũng đã
tìm thấy nhiều bộ xương chó rừng trên, nay đạ bị tuyệt chủng. Trong khi đó hậu
duệ của nó, tức là chó nhà, đã lần hồi trôi nổi theo người chủ thợ săn, lang
thang khắp đồng cỏ và tiến dân về bờ biển Baltique, bắt đầu truyền giống và sinh
sôi nẩy nở. Do tính cách hoang sơ của thời kỳ con người còn ăn lông ở lổ, nên
đàn chó cũng chịu chung hoàn cảng hoang dã như chủ, tha hồ lai giống với đồng
loại chó rừng, qua bước lang thang vô định. Những tập tính như canh giữ nhà,đi
săn, không phải là tập quán hay bẩm sinh của loài chó, mà là được người chỉ dạy.
Khác với những gia cầm gia súc như trâu bò, ngưa dê, heo gà vịt..tuy cùng là thú
nuôi trong nhà nhưng chúng chỉ bị thuần hóa, khi bị con người giam giữ lâu ngày,
nên biến thành kẻ nô lệ. Còn chó và mèo thì khác, chúng chưa phải là con vật bị
người thuần hóa hoàn toàn, không bị nô lệ hóa. Nhưng do cái tình thiêng liêng
sẳn có từ lâu đời, chó đã coi người như bạn, luôn trung thành nghĩa khí và sẳn
sàng liều thân cứu chủ trong mọi trường hợp nguy hiểm, mà không bao giờ bỏ chạy.
Đó cũng là do cái tập quán có sẳn từ ngàn đời, khi những con cho rừng được chỉ
huy bởi thủ lĩnh của bộ tộc, mà chúng coi như chủ. Đọc các tác phẩm của nhà văn
nổi tiếng Mỹ Jack London, ta mới hiểu được những qui luật trong họ hàng nhà chó
Husky của người Esquiman sống ở Bắc cực, trong đó cả đàn chó kéo xe đều dưới
quyền chỉ huy của con chó đầu đàn, còn lãnh tụ tối cao lại là người chủ. Để ca
tụng sự ràng buộc và lòng trung thành giữa người cùng chó, còn hơn người đối với
người, nhất là người của xã nghĩa, thi sĩ William Worthworth, đã gọi đó ‘ mối
tình lớn, vượt trên tất cả mọi sự hiểu biết của con người. Ngày nay các nhà động
vật học, hầu như đều có chung quan điểm, khi kết luận loài chó trung thành với
người nhất, là các loại lai giống từ chó sói và chó rừng lông vàng ( Golden
jackal)., tức là chó sói chỉ được coi là thủy tổ của chó nhà, khí nó đã được lai
giống với các con chó rừng lông vàng, nay đã tuyệt chủng. Điều này đã được chứng
minh, khi hầu hết các giống chó tại Âu Châu ngày nay, đều có xuất xứ từ loại cho
rừng lông vàng (aureus) được thuần chủng đầu tiên và có thêm một ít huyết thống
của chó sói. Một đặc điểm khác mà các nhà tâm lý học chưa giải thích nổi, đó là
tình cảm giữa chó con đối với chó mẹ, sẽ hoàn toàn biến mất khi chó đã trưởng
thành và chuyển sang cho người chủ nuôi tới trọn đời
HỌ CHÓ (canidae) gồm chó sói, chó nhà và cáo, thuộc Bộ có vú có
rốn, ăn thịt, cơ thể có kích thước trung bình dài 40-160 cm, tai dựng đứng, mõm
nhọn, chân trước có 5 ngón, chân sau chỉ có 4 ngón. màu lông đa dạng, gồm 12
giống, sống khắp nơi trừ Nam cực.
A-CHÓ SÓI :
Từ xưa, loài người đã có ác cảm với chó sói, chẳng những bằng hành
động gặp đâu giết đó, mà còn thể hiện trong thơ văn qua truyện thơ ngụ ngôn như
cô gái quàng khăn đỏ và nhiều huyền thoại khác, nói về mấy mụ phù thủy ở
Âu Châu rhời trung cổ, hằng đêm biến thành lang-sói, đi giết người. Thời đó,
muốn nguyền rũa miệt thị ai, đối thủ hay dùng danh từ ‘ loài lang-sói ‘. Ngày
nay, quan niệm đó gần như không còn nữa nhất là tại Âu Châu. Những nhân vật có
tăm tiếng như Gérard Ménatory, làm việc trong khu bảo tồn sói tại Sainte-Lucie,
rồi Werner Freund tại Merzig (Đứa), một cựu quân nhân nhảy dù, từng sống chung
và nuôi dưỡng cả bầy 24 chó sói. Bên Anh, nhà quí tộc Roger Palmer nuôi trong
nhà một bầy bốn chó sói. Về sau chúng được thuần hóa và trở thành các ngôi sao
quảng cáo, cũng như diễn xuất chung với ngôi sao màn bạc Anh, trong phim ‘ Người
Sói’ của Luân Đôn. Tại Pháp, đoàn xiệc ‘ Thung lũng bạc ‘ của Philippe Le Hir
với hai ngôi sao chó sói Bébel và Wolfy, qua các màn diễn sói chun qua vòng lửa,
sói kiêu vũ với người, lưu diễn khắp nơi, ở đâu cũng được ái mộ.
Sói là loài thú sống theo bầy với luật kẻ mạnh giữa sự so tài của con
sói đực. Theo qui ước của LHQ được ký kết năm 1976, nước Ý lãnh phần trách nhiệm
nuôi sói tại khu bảo tồn Abruzze. Loài Sói Đồng Hoang, có tên khoa học Canis
Lupus, trở thành con vật canh giữ tuyệt giỏi, chống trộm và cac con vật khác tới
phá hoại vườn đất, trang trại. Đặc biệt khả năng và sức mạnh của sói Mông Cổ,
mỗi con nặng chừng 60 kg. Một con cọp khó có thể chống cự nổi với bốn con sói
trên, nếu chúng được thuần hóa. Điều cấm kỵ nhất khi nuôi dưỡng chó sói, là đừng
để chúng ngửi thịt sống, vì trong đó có mùi máu, sẽ khêu dậy thú tánh cấu xé có
thể nguy hiểm đến con người. Ngày nay chó sói có nguy cơ tuyệt chủng vì sự săn
đuổi ráo riết của con người. Ở phía đông, trong rừng núi nước Pháp, nay còn
chừng 600 con, cũng như tại Ý có 500 con. Mông Cổ, Canada..cũng còn rất ít. Nước
Pháp đã có chương trình nuôi sói lai giống, thuần hóa và huấn luyện chúng canh
gác, đi săn (trừ chăn nuôi cừu), để thay thế chó Berger Đức.
CHÓ SÓI CÓ TÚI : Còn được gọi là sói Kangaroo, nay còn rất ít ở Uc,
sống trong rừng rậm trên đảo Tasmania. Sói này có tên khoa học Thylacinus
Cynocephalus, là động vật có túi, nên phôi thai được diễn ra trong túi da dưới
bụng của sói mẹ. Tuy nhiên về thể xác và tập quán, con vật này giống chó sói hơn
là kangaroo, chẳng qua để thích hợp với môi trường sống, nên cơ thể phải bắt
buộc trãi qua các thời kỳ tiến hóa đặc biệt. Sói kangaroo ăn thịt và săn mồi nhờ
hai chân trước có năm ngón với móng vuốt hình nón cứng nhọn, riêng hai chân sau
chỉ có bốn ngón. Sói Kangaroo còn được gọi là cọp có túi, vì bộ lông thường có
những sọc vằn màu nâu đen. Sói sống đơn độc trên những sườn núi thẳng dốc và các
hang động cheo leo, không tru tréo như đồng loại, mà chỉ gầm gừ trong họng khi
tức giận.
Nhờ sống tại Úc Châu, nên giống sói có túi không bị tuyệt chủng. Sói có
túi ăn cây cỏ đồng thời cũng ăn thịt các con thú nhỏ khác. Khi người da trắng
vào Úc, cũng bắt đầu chó sói có túi bị tiêu diệt bởi các thợ săn ham tiền
thưởng. Tình trạng này kéo dài tới cuối thế kỷ thứ XIX mới chấm dứt. Tuy nhiên
hiểm họa của chó sói có túi không phải chỉ có người, mà còn từ chó rừng Dingo,
được mang từ Anh sang Úc, rồi trở thành thú hoang dã. Do bị săn giết quá
bạo tàn, nên ngày nay có sói có tuí chỉ còn số ít, sống ẩn núp trong các khu
rừng rậm trên đảo Tasmania. Trong khi đó cùng họ sói, ta thấy sói Abyssinie ở
Ethiopie (Châu Phi) là hung dữ nhất, sống thành đàn và chính chúa tể rừng xanh
là sư tử, khi gặp cũng phải cúp đuôi bỏ chạy. Sói Ấn Độ (CanisFallipes) săn theo
bầy, con mồi la trâu nai. Sói Mỹ (Canis Osccidentolis) sống trên các núi cao
băng lạnh. Tại các thảo nguyên ở Nam Mỹ Châu, có loại sói đỏ, bơi lội rất gỉi
chuyên săn mồi dưới nước.
* CHÓ SÓI THẢO NGUYÊN (Canis Latrans) , thuộc Họ Chó (Canidae),lông màu xám
nâu, sống trong các đồng cỏ ở Bắc Mỹ, gần giống loại chó rừng (canis aureus) ở Á
–Phi-Âu. Sống theo bầy và không gây nguy hiểm cho người cũng như gia súc, dễ
dược thuần hóa.
* CHÓ SÓi ÂU CHÂU (Canis lupus) được coi là quý nhiếm
nhất trong loài chó sói hiện nay. Chúng cũng sống ở Châu Á và Bắc Mỹ, có chiều
dài 1,2m + đuôi 0,45m. Sói này săn huơu hoảng vào mùa đông theo đàn. Khi
đói có thể ăn cả xác thối và côn trùng. Tại Châu Á, sói phá hại kinh khủng nhưng
khó bị tiêu diệt vì lanh khôn quỷ quyệt.
* CHÓ RỪNG DINGO (Canis
familiarris dingo ), Trước khi người Anh tới Úc, ở đây đã có giống chó Ấn Độ.
Khi người Anh tới thì giống chó này trở thành hoang dã và thành một nòi riêng
gọi là chó rừng Dingo rất hung dữ, có sắc lông màu vàng nhạt.
* SÓI ĐỎ
VIỆT NAM, có mõm ngắn, hai tai tròn vễnh lên, lông màu hung đỏ, đuôi xù và nhọn.
Sói đỏ săn hươu nai hoảng cả gà ngổng, sống từng bầy trong rừng già từ 5-10 con,
đôi khi mò về bản làng bắt gia súc. Tại VN sói đỏ sống nhiều ở Sơn La, Lai Châu,
Bắc Kạn, Thái Nguyên cả Kon Tum. Do tệ nạn phá rừng, loại sói này có nguy cơ
tuyệt chủng nên VC đã ra lệnh cấm săn bắn chúng.
B-CÁO :
Cáo (vulpes vulpes) là loài độc nhất thuộc Họ Chó, sống trong trạng
thái hoang dã tại Châu Âu, một ít ở Bắc Mỹ, Châu Á, Ấn Độ, Bắc Phi và bắc sa mạc
Sahara. Cáo có chiều dài chừng 1m, đuôi 0,50m, lông có các màu đỏ nhạt, phần
bụng trắng xám nhạt và trắng ở phần cuối đuôi. Cáo sống ở rừng trủng và núi cao
trên 2250m, trong các tổ bằng đất, ăn quả mọng, công trùng, ếch nhái, chuột.
Ngoài ra còn săn các loại nai hoảng nhỏ, cả chim lớn để lấy thịt nuôi con nhỏ.
Tại VN, cáo sống thành từng đàn tới 15 con, sống trong rừng rậm núi cao ở cac
tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn thuộc miền thượng du BắcViệt.
* CÁO BẠC (vulpes-vulpes domestica) , sống ở Bắc Mỹ, hiện được nuôi
trong các trại chăn nuôi đặc biệt..
* CÁO CÁT (Fennecus zerdo), loài cáo
nhỏ,sống ở sa mạc , chiều dài chừng 0,45m với cái đuôi 0,20m. Cáo có màu lông
giống cát, hai tai lớn lớn, mắt tròn to là loại thú chuyên săn mồi ban đêm, lông
mọc cả lòng bàn chân. Cáo cát sống ở Bắc Phi, bán đảo Ả Rập Saudi, Do
Thái..trong những vùng hoang mạc, ăn các loại sâu bọ như châu chấu, chuột,
chim., thằn lằn, trái cây nhất là chà là. Ban ngày ngủ trong các tổ đất.
* CHÓ THẢO NGUYÊN (Lycaon pictus ), đặc biệt có đội trai tròn lớn giống
tai cáo, chân trước chỉ có 4 ngón, chiều dài 1,10m + đuôi 0,40m, bộ lông màu đen
có đốm trắng, vàng, nâu. Chó này sống ở phía nam Sahara, Đông Phi từng bầy, ăn
thịt bằng cách săn những con mồi lớn như nai hoảng..
* LỬNG CHÓ
(Nycterreuter procyonoides), có chiều dài 70cm + đuôi 0, 15m. Sa9n mồi ban đêm,
chân ngắn, lông xám có những đốm âu vàng nhạt. Lửng chó s6óng rại
Trung Hoa, Cao Ly, Nhật Bản. Nó ăn trái cây, côn trùng và các động vật nhỏ. Lưng
chó còn được biết qua cái tên Cáo Nhật, được nuôi để lấy bộ da lông làm các loại
áo lạnh đắt tiền.
C-LINH CẨU :
Theo quan niệm của người Trung Hoa xưa, thì Sài (Linh cẩu), Lang
(Chó sói), Hổ, Báo là bốn loại thú hung tàn nhất chốn rừng xanh. Trong số này
Linh cẩu tức là Sài được đứng đầu tứ hung, chứng tỏ nó là con vật ăn thịt độc ác
và mạnh mẽ đến bực nào. Linh cẩu thuộc Họ Chó, sống khắp nơi nhưng tập trung
nhiều nhất vẫn ở các nước Kenya, Tanazia (Châu Phi), nhờ có đôi mắt lớn và tinh
của nó, nên thích ứng với việc săn mồi về đêm. Theo nhà động vật học Hans Krunk
tại Viện nghiên cứu Serengeti, thì loài linh cẩu không những chỉ ăn xác chết, mà
còn là những tay săn mồi mạnh mẽ, không thua gì sư tử. Tóm lại 34% linh cẩu sống
bằng mồi của những thú khác giết hại, tức là xác chết, chỉ vì bị bắt buộc khi
đói, chứ không phải do sở thích. Bởi vậy có tới 80% ăn mồi do chính linh cẩu
tự tìm lấy. Kỹ thuật săn mồi của loài này cũng rất đặc biệt, luôn
thay đổi theo hoàn cảnh nhưng chủ yếu dựa theo sức mạnh của đàn. Với những
con vật ăn cỏ to xác như Ngựa Vằn, thì cả bọn nhào vô tấn công, còn khi gặp cả
đàn Linh Dương, lúc đó Linh cẩu phân nhau bủa vây bốn phía, làm cho đàn dê hoảng
sợ bỏ chạy tán loạn. Chừng đó con linh cẩu đầu đàn mới chọn mục tiêu và ra lệnh
đồng bọn tấn công, công việc kiếm ăn thường diễn ra ban đêm.
Linh cẩu nhỏ hơn chó sói nhưng lớn hơn cáo (chồn) , bề dài chừng 1m,
trán thấp, tai tròn nhỏ, mõm ngắn hơn sói, có bộ răng rất khỏe luôn phát triển,
sống thành đàn cả chục con trở lên, khi đói chúng dám tấtn công cả những con vật
lớn xác hơn mình, trong lúc món ăn bình thường là thỏ, chuột..Tính tính của Linh
cẩu hung ác, tàn nhẩn nhất là lúc săn mồi. Đối với ngựa, lừa, dê, nai bắt gặp,
linh cẩu bám theo dai dẳng, rồi thừa cơ linh cẩu nhảy lên lưng con mồi, nhanh
như cắt xoay thân lại, thọc mõm vào hậu môn của con vật đó, ngoạm lòi ruột và
nội tạng, chừng đó cả bọn chia nhau phanh thây con mồi xấu số. Bò rừng là con
vật to lớn và dữ ở rừng, nhưng vẫn không thoát được lũ chó hung tàn này.
Có điều kỳ lạ, đó là sự sống cộng sinh giữa cọp và linh cẩu, chung
trong một khu rừng. Linh cẩu chờ ăn mồi dư của cọp, đôi khi còn dám tranh dành
với chúa sơn lâm, trái lại hổ nhờ linh cẩu báo động để biết tình hình vì giống
chó này có nhản quan rất tinh nhạy. Đối với con vật hiền lành là Gấu Mèo, loài
linh cẩu luôn nể mặt vì chẳng làm gì được, cho dù chỉ một con đơn độc, nhờ vào
những vuốt nhọn ở bốn chân, có thể cào rách da thịt của bầy chó, qua thế trận
của Mèo, nằm ngữa đưa bốn chân có vuốt nhọn lên trời.
Giống Linh cẩu đốm sống nhiều ở các thảo nguyên bao la Phi Châu, có tập
tính khác biệt với Linh cẩu nâu ở Rhodésie và Mozambique, vì khi xâu xé con mồi,
miệng của chúng thường phát ra một loại âm thanh, tựa tỉếng cười ngạo nghể khanh
khách, nghe rất khó chịu. Nhưng chính tiếng cười này, đã làm hại chúng, vì vô
tình báo động cho đàn sư tử biết, a tới chiến trường hưởng chiến lợi phậm. Lúc
đó bầy linh cẩu chỉ còn biết chạy bỏ mồi giữ mạng và chỉ trở lại để lượm mót
những gì còn lại với bầy kên kên cũng đang rình rập. Linh cẩu sống thành đàn
đông đảo, trong các bụi rậm hay hang hầm của các con thú khác đã bỏ đi Linh cẩu
con vừa sinh ra, đã có răng nhọn, mắt to và tự đứng lên đi chạy. Vài thang lông
được thay đổi từ đen, thành đốm trên nền vàng. Ở loài này khó phân biệt
đực cái vì bộ phận của chúng gần giống nhau. Ngoài ra theo các nhà nghiên cứu,
loài linh cẩu tự đổi giống mỗi năm, cho nên chỉ có cách sờ mó vào bộ phận sinh
dục của chúng mới phân biệt được. Tuy nhiên người ta cũng có thể nhìn vào cử chỉ
của chúng trong mùa động dục, thường con đực tỏ tình với cái, bằng cách cúi mọp
đầu xuống rồi ngẩng lên hay dùng chân cào đất loạn xạ.
Nhờ có bộ lông cứng ngắt và xù xì, nên linh cẩu nhanh chóng xóa sạch
tất cả tàn dư của mùi xú uế xác chết, sau khi phanh thây con mồi. Giống Linh cẩu
lớn có trọng lượng trên 80kg, bề dài từ 1,30-1,60m, có dáng đi lum khum vì cặp
chân trước dài hơn chân sau nhiều. Do bốn chân không có móng vuốt như cọp mèo,
nên linh cẩu làm thịt con mồi rất tàn nhẩn ghê rợn, bằng bộ răng, nhất là những
chiếc nanh và hàm, nhọn hót cứng rắn như gươm thép. Đây là con vật xấu xí và bị
loài người khinh ghét nhất. Tuy nhiên cũng nhờ chúng giúp thu dọn cặn bã tại
vùng thảo nguyên và đặc tính ưa thích thịt linh dương, ngựa vằn, nên đã góp phần
cân bằng hiện tượng sinh thái của Họ thú móng guốc an cỏ, luôn sinh sản rất
nhiều. Đối với nhiều bộ lạc bán khai Phi Châu, điển hình nhất là người Masai ở
Serengeti, khi có thân nhân chết, đem xác chết đặt nơi lùm bụi để bầy linh cẩu
tới xé xác phanh thây, gọi là giai đoạn cuối cùng của nghi lễ mai táng, giống
như Điểu táng của người TâyTạng theo Phật Giáo Mật Tông. Lúc đói, bầy linh cẩu
dám mò về sát làng để tấn công người.
D-HẢI CẨU :
Hải cẩu hay chó biển, có khuôn mặt giống chó, trán gồ, tai có vànhtròng
mắt linh hoạt, có bộ lông mềm dày đen bao phủ toàn thân. Riêng bốn chân biến
thành vây để thích hợp bơi lội dưới nước , đặc biệt hai chân sau cong lên về
phía trước nên có thể ngồi như chó, trong khi sự đi lại trên bờ, lại có phần
nhanh nhẹn loài Báo biển. Hải cẩu được các nhà động vật học xếp vào loại tương
cận với Họ Chó, riêng con đực có bề dài khoảng 2m, con cái nhỏ hơn dài chừng
1,2m. Trên các quần đảo Kurin, Camandon và Pribilot, vào giữa xuân và hè, hàng
hàng lớp lóp hải cẩu theo tập quán có tự ngàn đời, cùng tìm tới đây để giao phối
và sinh sản. Đầu tiên là các chàng hài cẩu đực tới trước để dành vùng trên bãi
cạn,xong rồi chừng hai tuần sau, các nàng mới vượt trùng dương tới đảo tìm
chàng. Chừng đó các chàng đực mới gom các ả vào trong địa bàn của mình, càng
đông càng vui vì số lượng có khi lên tới hằng trăm con. Thế rồi hai phía giao
duyên sinh con. Đặc biệt suót thời gian chờ hải cẩu con lớn, hải cẩu đực luôn ở
lại tử thủ trên đảo, để bảo vệ đàn vợ con đông đảo, có khi kéo dài vài tháng
phải nhịn ăn chịu đói khát, cho tới hết hè, vì không thể xuống nước tìm mồi.
Để giành vợ, các chàng đực đã phải chiến đấu đẳm máu dữ dội, cho tới
khi một bên thua phải bỏ chạy nhưng các chàng bại tượng này đâu có cam nhận chịu
số phận, lại xông tới chổ khác để tiếp tục cấu xé đồng loại, nhiều chàng bị
thương bỏ chạy mà lòng vẫn còn ấm ức, nên cắn bừa vào lũ hải cẩu nhỏ . Tại quần
đảo Pribilot thường có trên một triệu con hải cẩu sinh sống, chiếm 80% toàn thể
hải cẩu hiện nay. Vì các đảo rất nhỏ, nên hầu như khắp mọi nơi, từ bãi cát tới
vùng biển bao quanh đảo, chổ nào cũng có hải cẩu. Nhiều năm hải vcẩu tập trung
về quá đông lên tới hằng triệu con, nên không đủ chỗ để chen chân, khiến bọn
chúng phải ngồi sát nhau như cá hộp. Về phía bắc Arkhangelak chừng 200 km, có
một ngôi làng hẽo lánh của bộ tộc Pomors, được người Nga mệnh danh là ‘ thị trấn
của thiên thần ‘ ,nằm giữa biển tuyết trắng và đầm lây của vùng lãnh nguyên
Toudra, nên khí hậu ở đây có thể nói là khắc nghiệt nhất thế giới, vì vậy luôn
luôn chỉ có ba thứ là rượu Vodka, bánh mì cũ cùng mì hộp và quanh năm suốt
tháng, từ đời này tới kiếp nọ, chỉ có ăn cá để sống mà thôi. Còn thịt hải cẩu bị
chê vì toát ra mùi cá thối, nên người điạ phương chỉ ăn tim, gan, cật của hải
cẩu con trong mùa hè. Phần còn lại của hải cẩu, được Nga xuất khẩu sang các nước
Bắc Âu. Người dân ở đây chủ yếu sống bằng hai nghề chính là đánh cá Hồi
vào tháng 8 và săn bắt hải cẩu từ tháng 3-4 hằng năm.
Hải cẩu con có màu a trắng như tuyết cho nên khó nhãn, hiền lành như
trẻ sơ sinh nên dễ bị những thợ săn hốt bắt bằng lưới, trước sự chống đối kịch
liệt của những hải cẩu mẹ, khi nhìn đàn con thơ dại bị loài người bắt mang đi
nơi khác. Hải cẩu con sau đó bị nhốt vào những cái chuồng, một nửa để lại trong
các trại tập trung, bị bỏ đói hơn hai tuần cho tới khi nào chúng hoàn toàn thay
đổi bộ lông. Nhờ 1/10 phần mở được tích tụ dưới lớp da, nên dù hải cẩu con bị bỏ
đói chúng vẫn sống. Tóm lại mỗi mùa săn, người Pomors giết hơn 20.000 hải cẩu
con, trong vòng 10 ngày. Nhưng kinh khủng hơn là tại Canada, người ta dùng chày
đập chết hải cẩu con, rồi lột da lầy bộ lòng tại chỗ. Theo quá trình sinh nở,
thì hải cẩu con ra đời khi băng bắt đầu trôi giạt, có bộ lông màu xanh nhạt
trong tuần lễ đầu, nên dễ nhận thấy. Tuần thứ hai, bộ lông hải cẩu con trở thành
màu trắng tuyết nhưng chúng vẫn chưa biết bơi lội và đây là thời kỳ nguy hiểm
nhất của hải cẩu con, bị thợ săn vây bắt bằng lưới hay dùng chày đập chết. Từ
tuần thứ ba trở đi, hải câủ con lại thay lông và bắt đầu bơi lội, nên khó bắt
được chúng, nếu có cũng rất nguy hiểm vì răng hải cẩu trưởng thành rất sắc bén.
Ngoài ra món ‘ Thận Hải Cẩu ‘ là một trong 1001 món tráng dương bổ thận
của người Trung Hoa từ xưa tới nay. Đây là con vật được người xưa đánh giá cao
và đả dùng để chế ‘ Đại bổ tể ‘ , còn được biết tới cái tên ‘ Ngột nạp thú ‘ .
Trong tác phẩm Y dược có tên ‘ Thú vật di danh sơ ‘, có ghi chú như sau : Ngột
nạp giống như chó có đuôi dài, thường nổi trên mặt nước, khi mặt trời mọc. Luận
về dược tính thì hải cẩu, thì rốn của nó có mùi xạ hương màu đỏ hay vàng. Đời
Minh, có thêm sách ‘ Vạn Lịch dã hoạch thiên ‘ có ghi : Trong cac vị thuốc tráng
dương bổ thận, có món Rốn của Ngột Nạp hay Thận Hải Cẩu, uống vào rất hiệu
nghiệm đại bổ nhưng nóng nên khi dùng phải cẩn thận. Ngoài ra muốn biết thuốc
thiệt hay giả, thì cho chó cái nằm lên trên, nếu thấy thuốc khô và con vật bị
kích thích động cởn, đó là thuốc thiệt. Trên thế giới ngày nay, săn hải cẩu
tuyệt dối không bao giờ dùng súng, mà chỉ dùng sào dài lùa chúng xa bờ biển và
đập loạn xạ. Còn làm thuốc, chỉ dùng Thận của Hải Cẩu Đực vì khả năng của chúng
vô cùng kinh khủng, khi chỉ một chàng cùng lúc đã phục vụ thỏa mãn cả trăm
nàng.
HẢI CẨU RÂU BẮC CỰC : Sống nhiều tại vùng Svalbard, về phía đông bắc bờ biển
Na Uy có khí hâu rất khắc nghiệt,với nhiệt độ quanh năm -29 độ C hoặc lạnh hơn
nữa. Có lẽ vậy nên tới nay chứ có ai nghiên cứu tường tận về loại hải cẩu này,
mà chỉ biết chúng qua cái tên khoa học là Erignathus Barbatus. Nói chung, loài
hải cẩu râu thích sống biệt lập tại những vùng băng giá nhất ở Bắc Cực mà ít
người dám đặt chân tới. Về thể chất, hải cẩu râu nặng tới 410 kg, bề dài chừng
3m. Vì râu mép của loài này mọc tua tủa che lấp cả miệng, nên mới có tên
là hải cẩu râu, mỗi ngày ăn từ 6-10 kg cá các loại, phải tìm bắt có khi ở dưới
độ sâu hằng 100m, để săn mồi , no nê rồi trồi lên nằm ngủ trên các tảng băng.
Khi mới sinh nó đã cân nặng tới 36 kg và trọng lượng tăng tới 110 kg chỉ sau ba
tuần nhưng luôn luôn có hải cẩu mẹ theo bảo vệ. Đặc biệt cơ thể của hải
cẩu râu chứa tới 50% mở tinh ròng rất dày, nên chúng mới chịu đựng được sự lạnh
lẽo băng giá tuyết lạnh. Để nuôi con, vú hải cẩu mẹ tiết ra sữa nhưng chỉ trong
24 ngày rối ngưng hẳn, đồng thời các vú cũng teo lại . Loài này tính tính hiền
lành nên dễ làm mồi cho laọi gấu trắng Bắc cực. Ngoài ra chúng cũng bị người săn
bắn để ăn thịt, lấy mỡ và nhất là một vài bộ phận quý để chế thuốc tam tinh hải
cẩu bộ thận hoàn. Hiện Na Uy có khoảng 2600 hải câu râu được chính phủ bảo vệ
chặt chẽ.
E-CHÓ NHÀ :
Mặc dù đã được loài người thuần dưỡng, theo sự sáng tạo từ các tiêu
chuẩn thẩm mỹ, rèn luyện, lai giống từ thế hệ này tới thế hệ khác nhưng thực tế
tới nay, các loại chó nhà cũng chẳng khác hơn loài chó sói hoang dã, bởi vì cả
hai đều được sinh ra từ giống Cynodictis, loài thú ăn thịt nhỏ , xuất hiện hơn
12 triệu năm về trước. Do trên chó sói và chó nhà có thể giao hợp để sinh ra một
giống chó mang tập tính cả hia loài. Hiên đã có hơn 300 nòi ,từ giống Chihuahua
chỉ nặng có 1,5 kg tới loài Mastiff trọng lượng tới 90 kg. Theo thú y sĩ Joel
Dehasse, thì tập quán của loài chó có 20% di truyền, còn lại là ảnh hưởng từ môi
trường, sự huấn luyện của chủ và tập quán chung quanh.. Để phân biệt các giống
chó nhà, người ta còn căn cứ vào nhiệm vụ của chúng. Theo đó hiện nay
có:
- CHÓ CHĂN GIA SÚC : Nòi này đều có đặc tính chung với bộ lông cứng
ngắn phát triển tùy theo khí hậu bản địa của chúng, rất khỏe mạnh, do bẩm sinh
nên có khả năng chăn giữ bầy gia súc rất toàn hảo, nếu được huấn luyện và có chủ
đi kềm. Nòi này có CHÓ BOUVIER , cao chừng 60 – 65 cm. CHÓ BERGER PHÁP (De Brie,
Picard, Langnedoc) cao từ 40 – 70 cm. CHÓ BERGER ĐỨC, là hậu duệ từ giống sói
rừng đen, khôn ngoan và dễ huấn luyện, ngoài khả năng chăn thú, còn được huấn
luyện để làm các công việc bảo vệ, dò tìm, liên lạc, đi săn và cứu nguy. CHÓ
BERGER BỈ VÀ SCOTLAND (Collie,Colley), BERGER NGA (KelpieBard), BERGER CATULUNA
HAY TÂY BAN NHA (Gos Atula)..được lai giống từ nòi Colley và chó hoang dã
Dingo.
- CHÓ GIỮ NHÀ VÀ GIÚP VIỆC : Hiện có CHÓ DOGUE, cao lớn, khỏe mạnh
chỉ quan tâm và thương mến bảo vệ chủ mình mà thôi, tuy rằng cũng thân thiện với
mọi người chung quanh. Nòi này có CHÓ DANOIS LỚN (Dogne Đức, Boarhound) là hậu
duệ của nòi Donge, từ sự lai giống giữa chó Lévrier và Mastiff, cao khoảng 80cm,
lanh lẹ khoẻ mạnh. CHÓ MASTIFF (Donge Anh), mặt ngắn, đầu to, còn loài
Bullmastiff nhỏ hơn. - CHÓ BOULEDONGE là loại Dogne nhỏ con, là loài chó
nhà được người thuần hóa và nuôi trong nhà, gồm giống Bull-Doganh, đầu to, hàm
răng dưới nhô ra đằng trước. CHÓ DOBERMANN, SCHNAUZER, tức loại chó Pincher
khổng lồ.
- CHÓ VÙNG NÚI xuất phát từ Tây Tạng, là tổ tiên của cac nòi
chó vùng núi, ít có loài thuần chủng và rất khó thích ứng với các miền khác khí
hậu bản địa, nên không phát triển được tại vùng thấp. Chó cao trên 1m, nặng trên
100 kg, có hình dáng khác biệt với các nòi chó khác trong họ chó. Nòi này có CHÓ
NÚI PYRÉNÉES, BOUVIER, THỤY SĨ, ROTTWEILLER (Đức), SAINTBERNARD..có khả năng
canh gác giữ nhà, tính tình hiền lành, rất mến trẻ con.
- CHÓ KÉO XE gồm
nòi ESQUIMAU ở đảo Groenland (Đan Mạch) , nòi MALAMUTE của người Esquimau
Canada, nòi Laponie – CHÓ SAMOYÈDE có gốc miền Tây Bá Lợi Á thuộc Nga, màu lông
trắng đẹp, chỉ trung thành với chủ. CHÓ OSTIAK LAIKA , gốc Nga dùng để săn
gấu.
Ngoài ra còn giống chó quý Bắc Kinh, thường được mênh danh là chó
hoàng tộc , rất thuần chủng , ngày xưa từng được nuôi trong cung đình của các
vua chúa Tàu. Chó này thân hình nhỏ thó, bốn chân lùn, đặc biệt bộ lông mượt
đẹp, rất dài bao phủ toàn thân tới mắt mũi. Đây là giống chó khó nuôi, nên phải
chăm sóc rất kỷ lưởng nhất là bộ lông rất dòn dể rụng nếu chải chuốc sơ ý làm
mạnh. Vì thế ngày xưa, chó được giao phó cho các quan ngự y chăm sóc, để chúng
luôn có vẽ đẹp quý phái làm đẹp lòng vua chúa phi tần trong cung.
Việt Nam và vùng Đông Nam Á là nơi thuần hóa loài chó sớm nhất. Trên
đảo Phú Quốc có giống chó thuộc nòi chó sói Dingo và chó hoang dã, hiện
nay cũng sống ở Úc Châu. Nòi chó VN được thuần hóa hớn 4000 năm trước tây lịch,
để đi săn và giữ nhà, bắt nguồn từ loại sói lớn hiện còn sống trong rừng núi VN.
Có 3 giống : Chó Vàng vì bộ lông màu vàng, chuyên đi săn tầm vóc trung bình. Chó
Mèo vóc lớn, tai nhỏ vểnh, sống ở mạn núi cao. Chó Lào có bộ lông vàng hung, đặc
biệt với hai vệt trắng ở trên mắt.
2-LẠC VÀO THẾ GIỚIKỲ LẠ CỦA CHÓ :
Hơn bất cứ loài nào trong thế giới động vật, loài chó từ bẩm sinh đã có
khuynh hướng yêu mến và chung thủy với mọi người, trung thành nên sẳn sàng hy
sinh tính mệnh để bảo vệ chủ mình . Tuy đã trở thành gia súc từ bao chục
thế kỷ nhưng chúng vẫn còn giữ được tập quán của tổ tiên nơi hoang dã, nên thích
rượt đuổi, cắn lột cũng như khả năng định hướng tìm được đường về nhà. Lúc ngủ
thường xoay vòng tròn hàm ý muốn dọn dẹp chổ nằm, biết đào lỗ chôn giấu cặn bã,
tru lên khi đêm về để gọi bạn tính và hay lăn mình trong bụi bặm để xóa đi cái
vết tích riêng mình, một trong những mánh khóe của các thợ săn thú. Khi những
người tiền sử bắt đầu thuần hóa những con chó rừng, họ đã cho lai giống nhiều
đời nên ngày nay mới có hơn 115 giống chó mới, có phẩm chất tốt đặc biệt, được
xếp thành 6 nhóm như chó lao động, chó thể thao, chó săn, chó du lịch, chó
kiểng..nhưng dù cho bất cứ loại nào chăng nửa, từ loại chó khổng lồ Great Dane
tới bé xíu Chihuahua, bẫm sinh và tập quán của Chó là Trung Thành và Tận Tụy.
Do tổ tiên của chó nhà là sói nên dù đã được thuần hóa và nuôi dưỡng,
chó nhà vẫn có tập quán bầy đàn và đặc biệt của chúng là chỉ có cặp sói trội
nhật, mới có quyền sinh nở để nối giòng. Bao đời qui luật của kẻ mạnh là thế.
Tập tính đó xưa nay, dù sống tự do trong rừng hay bị bắt về nuôi, đều không thay
đổi, nghĩa là Gene chỉ được truyền từ nhửng con khoẻ mạnh, thông minh nhất để
sống còn. Nhưng theo các bác sỹ thú y, thì chính sự giao hợp cưởng bức của loài
chó, thường kết thúc bằng sự thất bại , khiến cho con đực nhiều khi mất khả năng
hứng thú . Để giải quyết những điều không ưng ý trên, thông thường người chủ hay
thiến cả cho đực lẫn chó cái, để tránh sự ra đời của những chó con không thuần
chủng.
Người Âu Mỹ do truyền thống bảo vệ gia súc, nên chẳng bao giờ ăn thịt
chó như hầu hết người Á Châu. Nhưng Chó vẫn được tận dụng trong kỹ nghệ. Tại Đức
có các loại kem ăn Wiecorek với hai thứ vanila và chocolate dành cho chó nhưng
người cũng có thể ăn được. Ở Los Angeles có cửa hàng bánh mì hiệu 3 con chó,
dành cho các chú khuyển. Cũng tại thành phố Culver, tiểu bang California, còn có
một câu lạc bộ mang tên Kennel Club , phục vụ cho quí khách cẩu từ A-Z như rèn
luyện thể lực, tắm trong bể bơi, rong chơi đó đây và ngơi nghĩ trên giường nệm
coi truyền hình. Lại có 6 công ty Chó thám tử ở Virginia, mà lớn nhất là
Interquest, chuyên chống ma tuý và làm thám tử tại các trường học, tư gia
cũng như các công ty. Trên thế giới, Pháp là quốc gia cưng chó nhất với số lượng
17 triệu con với tổn phí chăm sóc tới 3,3 tỉ đô hằng năm. Marie Claude
Lebret, được huấn luyện từ Mỷ và trở thành giáo sư sinh học tại trường trung học
nông nghiệp Alencon Pháp, là người đã huấn luyện những con chó giúp cho người bị
liệt tứ chi,biết làm đủ mọi chuyện trong nhà từ rửa chén, dọnbàn ăn, mở đóng cửa
tới trả lời điện thoại, đó là chưa kể tới những con chó khác giúp người mù và
điếc. Chó còn tác dụng làm êm dịu, giúp các bệnh nhân hạ huyết áp, đối với các
bệnh nhân trong nhà có nuôi chó. Theo Thú Y Sĩ Pommery viết trong ‘ Que
Jaire En Attendant Le Vétérinaire ‘ thì chó nghe được những âm thanh cực nhỏ ,
mà tai người chỉ có thể nghe tối đa 30.000 chấn động, còn tai chó có thể nghe
tới 100.000, tóm lại người rất khó khăn nghe được âm thanh ngoài 4m nhưng chó
lại có thể bắt được âm thanh xa hơn 25 thước, là chuyện bình thường. Nó còn có
tài đánh hơi một giọt máu được hòa tan trong 5 lít nước lạnh và đặc biệt phát
hiện được mùi cay cay nơi con người đang ở trạng thái sợ hãi.
Tai Anh hiện có trên 10.000 con chó đủ loại, từ giống Berger to xác cho
tới nòi Griffon có bộ lông dài lấp mắt và cuối cùng là các chú khuyển Pékinois
mõm ngắn mắt lồi nhưng quái đản nhất là chuyện chó Anh nhiều con được mặc quần
áo may sẳn, đeo đầy nử trang và được mời dự tiệc tùng, cùng với các chính khách,
mệnh phụ., coi đó như là một biểu tượng giàu có trí thức của những chủ chó. Năm
1990 trong khi nhiều chục triệu người Phi và Á Châu chết đói, ngay tại nước Anh
cũng không thiếu kẻ nghèo không miếng ăn nơi ngủ, thì thống kê cho biết Anh đã
tốn hết 842.000 tấn thực phẩm để lo cho các ông bà chó. Quái nhất là người ta
luôn kêu gào tranh đấu chính phủ phải ban hành nhiều đạo luật..trong đó có khoản
yêu cầu các nhà buôn khi sản xuất thực phẩm dành cho chó, phải làm sao đừng để
có chất đường mở trong đó, khiến cho chó mập và bị cholesterol và tiểu
đường, trong khi chính con người đã và đang thứ đắt đỏ và trân quí như thịt thỏ,
gà tây, cá thu kể cả sửa heo.. mà triệu triệu người VN hiện sống trong xã nghĩa
thiên đường, suốt kiếp chắc đâu một lần có để mà hưởng. Đã vậy thức ăn chó còn
được nấu nướng trang trọng, thêm vào là các món tráng miệng yaout chống mập,
không có đường mứt và sốt trứng gà. Rồi thì vào tháng giêng hằng năm, lại
có Hội Chợ Chó, qui tụ tất cả những con chó quí từ muôn phương về, được
bán với giá ai nhìn tới cũng chóng mặt, dù trong số này có nhiều thứ chó chẳng
ra gì như Caniche, Épagneul, Labrador..Rất nhiều nhà giàu đã xây nhà riêng cho
chó và cũng vì được cưng quá nên cô cậu ông bà cẩu lên ngôi đâm ra mập phì,
biếng nhác , thậm chí gặp trộm vào nhà cũng chả thèm sủa báo động. Ở Anh
52% chó được ngủ chung phòng với chủ, trong đó 26% chó ngủ chung với chủ.
Lạ nhất là các bà thường cau co la ó vì tiếng ngáy của chồng nhưng lại hoan hỉ
chấp nhận cái mùi đặc trưng của Chó. Nghiêm chỉnh hơn là cái vụ đặc tên chó cũng
cẩn thận, chứ không giống như một số người Việt tị nạn ưa tên ngoại quốc nhưng
ít khi để ý tới tên nào đáng đặt mà không phải bị người ta cười vì lẩn lộn. Cho
nên chị chó thì phải là Sweety, Bonie, Candy..còn chàng chó thì tên phải oai như
các anh hùng Spartacus, Harcule, Hamniball..
Cũng bên Anh còn có nhiều khách sạn năm sao dành riêng hay ưu tiên cho
chính khách chó, như Canigou, Marjorie, Titchen, White Top Hotel..phục vụ chó
hết cở theo đồng riền với phương châm ‘ phục vụ từ muỗi đến voi ‘ Nhưng tuyệt
đỉnh vẫn là Trung tâm sửa sắc đẹp chó Peter ‘s Posh Pet của Peter Young, chuyên
lo xịt keo, chải lông và làm bất cứ việc gì để các ngài chó được nổi tiếng vì
trổ mả xinh đẹp. Cho nên nếu có dịp đến Anh, xin chớ dại đá vào các vua chó ở
đây, cảnh sát sẽ đến còng tay ngay, đó là chưa nói tới dùng gậy gộc để đã cẩu,
một hành động bị coi là phạm pháp nghiêm trọng.
Về tiếng chó sủa thường hay xãy ra vào lúc nửa đêm gà gáy canh ba, mà
nhiều người thắc mắc là bẩm sinh hay là đặc trưng của loài chó ? Theo các
khoa học gia Raymond Coppinger, Mark Feinsrein tại trường đại học
Hampshire (Massschusetts – Hoa Kỳ), cho biết có những con chó đã sủa liên tiếp 7
giờ liền hay sủa mỗi phút tới 70 lân như nòi chó Cocker , loài chó Anh có hai
tai dài rủ xuống. Mỗi lần chó sủa sẽ làm tổn hao rất nhiều năng lượng của chúng.
Nhưng chó đâu chó sủa lỗ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày, như là một
trả lời , đó là sự khích lệ của một dị chứng rất mạnh mẽ của quá trình thuần
dưỡng , từ lúc mới sinh cho tới khi lớn và trở nên quen thuộc khi cần nài xin
một điều gì . Đó cũng là tính năng trao đổi để tạo nên sự thân thiện giữa chó và
chủ. Tiếng sủa còn là một biểu tượng gọi đàn hay bày tỏ thái độ hận thù, một
điều không bao giờ xãy ra đối với chủ của nó, dù chó cũng suả nhưng với một âm
thanh êm dịu trìu mến.
Cũng tại nước Anh vào thế kỷ XIX, nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng,
người ta lai tạo ra một giống chó to lớn hung dữ, để đấu với bò rừng bị xích
lại, tại các đâu trường. Đó là giống chó Staffordshite mà ngày nay được gọi Chó
Pit-Bull. Đây là giống chó được phối hợp bởi nòi Bul-Terrier tại vùng Stafford
và giống chó Boule-Dogne của Anh. Năm 1870 con chó Ngao Anh theo đoàn quân viễn
chinh sang Tân Thế Giới (Hoa Kỳ) và nó đã hạ hết các giống chó tại đây. Sau đó
chó Pit –Bull tới Âu Châu và lần nửa cũng chiến thắng, để trở thành vô đich .
Gần này chó này lại càng được ưa chuộng cuồng nhiệt, khi thường xuất hiện làm
cảnh cho các ca sĩ nhạc Rap trên sân khấu. Chó Pit Bull tuy vóc dáng lùn nhưng
thân thể gân guốc, hàm to đầu khỏe, đối với người quả là một con vật đáng sợ,
nên không biết gọi nó là thiên thần hay ác quỷ. Vào ngày 22-7-1996 tại
Pháp , ai nuôi Chó Pit-Bull bị coi là kẻ xử dụng vũ khí làm hại người khác. Do
đó, đã có nhiều biện pháp đưa ra nhằm tiêu diệt giống chó dữ trên, cũng như cấm
nhập cảng, nuôi, chuyên chở và tàng trử chó Pit-Pull trên toàn nước Pháp.
Theo Sigmund Freud và Konrad Lorenz thì bản chất của giống chó Pit-Pull không
phải do bản năng hay di truyền mà do chính con người đã huấn luyện tạo ra tính
hung bạo của nó. Quan niệm này cũng được Thú Y Sĩ, đồng thời là thành viên
của Hội bảo vệ súc vật Pháp (SPA) tên Serge Belais đồng tình ‘ chó nào cũng vậy,
hiền hay dữ đều do chủ nó tạo ra’.
Ngay từ thời Cổ Ai Cập, loài người đã biết xử dụng thú vật trong chiến
trận và Chó là một trong những con vật được xử dụng nhiều nhất. Người Pháp cho
chó đeo mặt nạ chống hơi độc trên chiến tuyến chống quân Đức vào năm1917.
Quân đội Thụy Sĩ vào năm 1942 đã bí mật đã huấn luyện chó thành những đặc công
gài mìn, để làm nổ tung tàu ngầm Đức. Trong thế chiến II, người Nga đã cột mìn
vào chó, rồi xua chúng vào chiến xa Đức để nổ tung. Cuộc chiến hiện đại ngày
nay, chó chăn cừu được huấn luyện, cho đeo mặt nạ , chui qua đám khói độc, lưng
mang đường dây điện thoại và chuồng chim bồ câu, chay dưới làn mưa đạn tới tận
chiến hào đưa tin cho quân bạn. Ở Nhật có lập một Đài kỷ niệm một con chó , đã
cứu sống một người Nhật bị vùi trong bão tuyết , mà cả nhiều người với các
phương tiện tối tân vẫn phải bó tay. Tại Pháp con chó tên Jackie vì thương mến
chủ, nên khi người ấy qua đời, chó đã tiển chủ mình tới nghĩa trang hằng chục
cây số bảo tuyết. Sau đó chó chạy ra mồ chủ và nhịn đói 7 ngày để chết. Hồi đệ
nhị thế chiến, một công nhân Ý làm tại hảng xe , có nuôi môt con chó nhỏ. Sau đó
người công nhân bị Đức bỏ bom chết nhưng con cho Danny vẫn không hay biết, nên
suốt hai tháng ròng rã , chó vẫn cứ đi về trên chặng đường mà nó từng đưa đón
chủ đi làm, tới khi trời tối mịt không gặp chủ, nó buồn bã mới chịu bỏ ra về.
Trước nghĩa cử trung thành thương mến chủ của chó, nên chính phủ đã ban cho nó
huân chương ‘ trung dũng bội tinh ‘ và đem về nuôi dưỡng.
Người Đức có giống chó Berger nổi tiếng thuần chũng. Giống chó này ra
đời từ năm 1887 do một người Đức tên Leonberg tạo thành, qua sự lai giống giữa
nòi chó nhà và chó sói Đức, qua cái tên Wolfhund (chó lai) với vóc dáng cao lớn
hùng dũng của loài chó sinh trưởng tại hai bờ sông Rhine, ranh giới hai nước
Đức-Pháp. Năm 1891 câu lạc bộ chăn nuôi chó Berger Đức ra đời và con chó Đức đầu
tiên được ghi vào sổ thú vật thế giới vào năm 1895. Trước thế chiế II Đức
cấm xuất cảng chó Berger. Khi chiến tranh kết thúc, các nước thắng trận đã đoạt
chó Berger đem về nước mình, coi như một trong những chiến lợi phẩm . Trong số
này, một đại úy Mỹ đã chộp được một con berger Đức tên Rintintin, nguyên là một
con chó trong đoàn xiếc. Chó Rintintin khi về Mỹ được quay phim đưa lên màn bạc,
đã thu hút hằg triệu khán giả thời đó. Nhờ vậy mà phong trào nuôi chó Berger Đức
bùng nổ khắp thế giới nhưng nhiều nhất tại Đức, Pháp, Anh, Mỹ, Nhật, Đài Loan..Ở
VN người ta nuôi Berger Đức từ thời Pháp thuộc. Ở miền Nam (1955-1975) , QLVNCH
có Đơn Vị Quân Khuyển với hơn 10.000 chó Berger Đức, được huấn luyện tại
Trường Quân Khuyển ở Long Thành-Biên Hòa, với nhiệm vụ bảo vệ các kho xăng dầu,
đạn dược, cơ sở quân sự cả tác chiến như dò mìn, khám phá hầm hố địa đạo
của địch.
Tại Mỹ, trong cuộc chống khủng bố hiện nay, các cơ quan an ninh
Hoa Kỳ đã tận dụng khứu giác của giống chó Labrador , canh gác tại sân bay quốc
tế Kennedy (New York) . Dù Quốc Hội Mỹ đã dành ngân khoản tới 144 triệu đô la để
cải tiến hệ thống an ninh nhưng theo các chuyên gia, thì khả năng phát hiện đặt
chất nổ của bọn khủng bố vẫn là chiếc mũi chó. Do trên quốc hội cũng đã chuẩn
chi 8,8 triệu mỹ kim , cho cơ quan quản lý hàng không liên bang (FAA) để huấn
luyện 100 đội chó dò bom và chất nổ, tại 31 sân bay. Riêng cục quản lý rượu,
thuốc lá và vũ khí (ATF) , từ năm 1997 tới nay, mỗi năm huấn luyện trên 100 chó
chống khủng bố. Trường Quân Khuyển AFB nằm trong căn cứ không quân Lackland của
Hoa Kỳ, được coi là lớn nhất thế giới hiện nay, chuyên huấn luyện đào tạo nòi
chó đặc biệt Sheba, hằng năm huấn luyện từ 300-350 con. Tóm lại thực tế cho thấy
bên cạnh những thiết bị chiến tranh tốn hằng tỷ bạc, ‘ chó ‘ vẫn là thiết bị tốt
nhất vì hoạt động vô cùng hiệu quả, đồng thời cũng ít tốn kém tiền bạc.
Cuối cùng là một số kỷ lục mới nhất được ghi nhận về chó , chẳng hạn
như về trọng lượng nặng nhất là giống chó nhà St Bernard, có trọng lượng kỷ lục
tới 140,6 kg và cao 0,99m, Chó này có tên Benedictine Jr Schwarwald Hof, sinh
năm 1982, của một gia đình người Mỹ tại Grand Rapids, Michigan. Giữ kỷ lục cao
nhất là chó Đức tên Shamgret Danzas ở Hamshire (Anh), nặng 108kg , có chiều cao
106,6 cm. Còn nòi chó nhỏ nhất thường là giống Terrier Yokshire, Chihuahua và
các loại chó cảnh lông xù..nặng tới 0,450kg. Đứng nhất về giống chó nhỏ nhất
hiện nay vói hình dạng đo chỉ bằng bao diêm, đo tới vai được 6,3 cm, dài từ đầu
tới đuôi 9,5cm và nặng vỏn vẹn 113g. Đây là giống chó Anh, chết năm 1945. Bình
thường họ chó có tuổi thọ từ 8-15 năm và tối đa 20 tuổi. Nhưng chó chăn gia súc
tên Bluey ở Victoria (Úc) đã sống tới 29 năm 5 tháng mới chết. Ngày 19-6-1944,
con chó cái săn cáo ở Pensynvania (Hoa Kỳ) đã sinh một lứa tới 23 con. Năm 1931
Ella Welden ở New York (Hoa Kỳ) để lại một gia tài tới 15 triệu bảng Anh, cho
một con chó xù tên Toby. Từ năm 1820-1824, con chó Billy nặng 11,8 kg, đã diệt
được 4000 chuột, chiếm kỷ lục trong những lần thi tại London-Anh. Ở Kochi trên
đảo Shikoku của Nhật Bổn, có một trường đặc biệt dạy các võ sĩ Sumo chó, môn võ
truyền thống của xứ Phù Tang. Mỗi lâm trung tâm này tổ chức 5 lần thi đấu y hệt
người với sự phân biệt đẳng cấp , hang cân và mặc trang phục buộc đai ,
trong khi tại võ đài cũng khói hương nghi ngút, vách được trang trí bằng các
tượng gổ. Thời gian hoạt động của một võ sĩ Sumo chó chừng 10 năm, bắt đầu học
nghề từ 1 tuổi, sau đó tham gia các trận đấu tới 8 tuổi mới về hưu. Lúc chết ,
võ sĩ chó cũng hưởng đủ các nghi thức dành cho một Sumo người của Nhật. Tại
Florida (Mỹ) vào tháng hai hằng năm, thường tổ chức cuộc thi quốc tế về môn ‘
Chó Trượt Tuyết ‘ rất được nhiều người hăm mộ.
Đấu chó hiện nay bị nghiêm trị tại Mỹ nhất là ở California, do
trên những người ham cái trò chơi man rợ trên, tại các tiểu bang miền tây và
nam, dân chơi phải lén lút tổ chức các cuộc đấu chó rất bí mật vào đêm thứ
bảy hàng tuần mà những kẻ tham dự là các chủ trại chăn nuôi nhỏ, người da
đỏ va mọi thành phần khác trong xã hội Hoa Kỳ, trong đó không hiếm hạng trí
thứcụ. Như người VN ưa thích đá gà, trên thế giới hiện nay có nhiều nước mê chọi
chó, trong số này có Pakistans.
Chính binh lính viễn chinh Anh Cát Lợi trong khi tới đô hộ Ấn Độ,
đã đem trò chọi chó vào Hồi Quốc và được người bản địa phát huy mỗi lúc thêm dữ
tợn, thường thu hút hằng chục ngàn khách chơi với tiền đánh cá mỗi độ cả trăm
ngàn phật lăng. Đấu trường chó thường được tổ chức tại một cánh đồng bỏ hoang
cách xa làng mạc hằng cây số. Nói chung để biến một con chó hiền lành, trở thành
kẻ hung tàn lạnh lùng tàn nhẩn, dám bôi mặt để cấu xé cắn giết đồng loại..loài
người phải mất rất nhiều công sức hơn nửa năm, hằng ngày 12 tiếng, để huấn luyện
chó , bằng đủ mọi thủ đoạn. Tất cả cũng chỉ để dành chiến thắng, thu lợi nhuận
mà thôi.
Thường người ta nuôi chó Pit-Bull để tham dự các cuộc chọi chó. Thật sự
cái tên Pit-Bull chỉ là một danh từ chung để chỉ tất cả các loại chó to con lớn
xác, mà không cần phải lưa chọn theo một nòi giống hay tiêu chuẩn nào cả, ngoại
trừ hình dáng, hàm răng và sức bền. Bắt đầu chó được huấn luyện từ lúc còn nhỏ,
bằng cách kích thích cho chúng cắn lộn để tập tính hung dữ. Nhờ đó chó đã biến
thành những cái máy đụng gì cắn nấy bất kể lớn nhỏ ăn thua, giống như người dân
sống trong xã nghĩa, được nhồi sọ trồng người, theo kiểu nhắm mắt , tuân theo
mệnh lệnh của kẻ cầm quyền. Theo tập quán, chó khi đấu nhau bằng các động tác
bẩm sinh như cắn, táp..khi bị hăm dọa hay để bảo vệ mình, con cái và chủ nhân.
Nhưng đối với các loại chó Pit-Bull nuôi để chọi thì hành động của chúng hoàn
toàn khác, vì chó được huấn luyện chỉ để xé xác đối thủ, cho dù chính mình cũng
gần bỏ mạng. Để chó đạt được tột đỉnh của cơn đau đớn, để nảo bộ phải tự động
tiết ra chất giảm đau endorphine, có tác dụng như một morphine, người ta phải
bắt nó chịu những cơn đau khủng khiếp nhất trong suốt thời gian huấn luyện.
Chọi chó bị hầu hết các nước trên thế giới ngăn cấm và coi như phạm
pháp, đồng thời sự nuôi dưởng giống chó Pit-Bull cũng đã gây ra biết bao tranh
cải, vì đa số đều muốn hủy diệt giống chó hung tàn này. Tuy nhiêm cấm thì
cấm, thiên hạ tại Mỹ vẫn cứ tổ chức chui thường xuyên, tại các địa điểm xa xôi
hẻo quạnh như ga xếp bỏ hoang, các kho hàng nằm sâu trong hẽm, ít bị ai để ý vào
lúc trời sắp tối. Khách tham dự hầu hết là những tên trọc phú giàu đổ vách nhờ
bất lương, cùng với bọn cướp cạn có máu lạnh, coi mạng người lá rụng. Đấu trường
sơ sài nhưng lũ chó đấu thì được huấn luyện kỹ càng đến mức khi lâm trận, chỉ có
chết để đạt chiến thắng mà thôi, lúc này chúng còn dữ tợn hơn chó sói hay linh
cẩu nhiều lần. Trong khi đang đấu, chó nào sợ bỏ chạy sẽ bị chủ đập chết ngay
tại chỗ, vì đó là luật giang hồ .
Đời chiến quốc bên Tàu vào thời Tuyên Vương nước Sở, có Chiêu Hề Tuất
dù chỉ là bề tôi nhưng tới đâu ai cũng sỡ.Vua Sở biết chuyện mới hỏi quầnthần,
được Giang Nhật thưa rằng “ Một hôm cáo bị hổ bắt được tính xơi, bị nó hù
ngược ‘ này đừng chạm tới ta do trời sai xuống cầm quyền thiên hạ , không tin cứ
đi hỏi thì biết. Rồi cả hai đồng đi, cáo trước hổ sau, quả nhiên tới đâu bách
thú đều cụp đuôi bỏ chạy, vì sợ oai hổ. ‘ Tóm lược người đời sợ Chiêu Hề Tuất
hay bách thú sợ cáo, thật sự là sợ vua và hổ mà thôi.
Nước Tề có người xem tướng chó rất giỏi, nên người hàng xóm nhờ
mua một con đem về để bắt chuột. Thế rồi chó được nuôi mấy năm mà không thấy nó
bắt được một con chuột nào, bèn hỏi người xem tướng được trả lời “ chó này tốt
lắm nhưng nghề của nó là săn hươu, nai, cầy, cáo..chứ không phải bắt chuột. Vậy
phải cùm chân nó lại, để làm cho nó sống hèn, có vậy mới đổi tính quay qua bắt
chuột. Quả nhiên từ đó về sau, chó chỉ còn biết bắt chuột.
Hởi ôi cáo chết ba năm quay đầu về núi, cũng đâu khác con người, dù
phải sống lang bạt tha hương chân trời gốc biển, cũng đâu có ai nhẩn tâm quên
được quê làng xa cũ, cho nên người xưa đã nói ‘ Hồ mã tê bắc phong, Việt điểu
sào nam chí ‘ là vậy đó. Nhưng đất nước ngày nay nhìn lại buồn ơi là buồn,
ở đâu cũng thấy nghèo hận thương sầu và những bi kịch ‘ cáo mươn oai
hổ ‘, đã khiến cho cả VN ngày nay trở thành một ngục tù vĩ đại, dân tộc VN
anh hùng kiêu dũng bao đờì, nay vì bị cùm chân khóa miệng, nên có khác nào ‘
loài chó săn hươu, biến thành con cẩu chỉ biết vồ chuột mà thôi.
Vậy đó nên không sớm muộn gì, non sông Hồng Lạc cũng bì Tàu đô hộ
–/-
Viết tại Xóm Cồn vào chạp
2005
|