|
Ông Cheney được coi như là một Phó Tổng Thống có nhiều quyền uy nhất trong
lịch sử của Hoa Kỳ. Ông được miêu tả là “kiến trúc sư của cuộc xâm chiếm Iraq
lật đổ Saddam Hussein”. Trước đó, ông đã nhiều lần tuyên bố là Iraq có vũ khí
giết người hàng loạt, đang tìm mua uranium tại Phi Châu để phát triển vũ khí
nguyên tử và có liên hệ mật thiết với tổ chức khủng bố Al-Queda của Osama Bin
Laden. Lịch sữ đã chứng minh là tất cả những vu cáo này hoàn toàn không có căn
cứ.
Cựu Ngoại Trưởng Colin Powel, người trình bày những hình ảnh từ vệ tinh của
những cái được gọi là “phòng thí nghiệm vũ khí hóa học di động” mà thật ra chỉ
là những chiếc xe thùng trống rỗng, chắc đã vì liêm sĩ của một quân nhân nên từ
chối không ra tiếp sức với Tổng Thống Bush trong nhiệm kỳ 2. Riêng ông Cheney
vẫn không tin là Iraq không có vũ khí giết người hàng loạt. Phụ tá và vây cánh
của ông cũng dần dần biến khỏi chính trường. Paul Wolfwowitz, nguyên Thứ Trưởng
Bộ Quốc Phòng, rời Ngũ Giác Đài và trở thành Chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới. Lewis
Libby, chánh sở của Cheney đang bị truy tố về tội tiết lộ hành tung của một nhân
viên tình báo CIA vì chồng bà ta cảnh báo những tin tức sai lạc về Iraq do văn
phòng của ông Cheney cung cấp. Và gần đây, Donald Rumsfeld đồng nghiệp lâu năm
và cùng trường phái diều hâu đã buộc phải từ chức vì những thất bại liên tục tại
Iraq.
Khó khăn tại Iraq không làm cho Cheney nản chí. Ông đang dòm ngó tới Iran và
Trung Quốc. Ông đã lên tiếng là Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự để
ngăn chận Iran phát triển vũ khí nguyên tử và ông chỉ trích Trung Quốc về việc
gia tăng ngân sách quốc phòng. Chắc ông lo ngại là một ngày nào đó, Trung Quốc
có thể thách đố ngôi vị đệ nhất thiên hạ của Hoa Kỳ. Tuy nhiên trong thời gian
gần đây, ảnh hưởng của Cheney với Tổng Thống Bush hình như đã giảm. Bằng chứng
là Bush đã bật đèn xanh cho Ngoại Trưởng Rice chấp thuận thỏa ước với Bắc Hàn mà
Cheney phản đối, theo đó, Bắc Hàn đồng ý ngưng phát triển vũ khí hạt nhân để
được nhận viện trợ kinh tế và năng lượng. Chắc Bush cũng đã học được một vài bài
học sau khi nghe lời Cheney nhắm mắt lao đầu vào Iraq. Có thể vì vậy mà Cheney
bây giờ tương đối rảnh rỗi bay sang Úc Châu để trà dư tửu hậu với Howard trước
khi rút lui khỏi sân khấu chính trường vào cuối năm 2008.
Mãi cho tới khi Nhóm Điều Tra Iraq Survey Group chính thức tường trình là
Iraq không có vũ khí giết người hàng loạt, Bush mới đổi giọng tuyên bố chính
sách của Hoa Kỳ là mang dân chủ đến Trung Đông để đánh bại triết lý Hồi Giáo cực
đoan và tư duy khủng bố. Thủ Tướng Howard đã phát biểu là không có gì hối hận về
quyết định gởi quân đánh Iraq mà sẽ tiếp tục có quyết định tương tự nếu lịch sử
tái diễn. Ông còn lẽo mép châm biếm những người phản đối cuộc chiến là những cảm
tình viên của Saddam Hussein.
Đây là một lối ngụy biện rẻ tiền và giả dối. Ông thừa biết đại đa số thành
phần phản đối cuộc chiến Iraq không ưa thích gì Saddam Hussein nhưng chỉ nghĩ
rằng chiến tranh phải là giải pháp sau cùng. Trong trường hợp này, thanh tra
Liên Hiệp Quốc vẫn ra vào Iraq hàng ngày để điều tra và kiểm chứng những địa
điểm có dấu hiệu khả nghi. Theo hồi ký của Richard Clarke, cựu Giám Đốc Chống
Khủng Bố tại Tòa Bạch Ốc, Bush đã có quyết định đánh Saddam Hussein ngay sau khi
khủng bố tấn công Trung Tâm Thương Mại Thế Giới vào ngày 11.9. Tất cả những buổi
họp hành điều trần tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chỉ là những là những cái
bình phong che giấu một ý định đã được nung nấu từ lâu. Tưởng cũng nên nhắc lại
là Saddam Hussein đã từng có âm mưu ám sát Tổng Thống Bush (cha) sau chiến dịch
Bão Táp Sa Mạc của Hoa Kỳ đánh quân Iraq ra khỏi Kuwait vào thập niên 90 và theo
đúng truyền thống cao bồi Texas, Bush (con) đã nuôi ý chí “quân tử trả thù 10
năm chưa muộn”.
Đối với một người lãnh đạo, không có một quyết định nào hệ trọng cho bằng
quyết định đem sinh mạng của thanh niên quốc gia đùa giỡn với tử thần trên đường
phố Iraq. Thủ Tướng Howard chẳng những không lên tiếng xin lỗi với người dân Úc
vì đã bất cẩn nhắm mắt dựa vào tin tức tình báo sai lệch của Hoa Kỳ khi quyết
định tham gia cuộc chiến, mà còn cãi cối cãi chày cho rằng đây là một quyết định
đúng đắn. Thế giới và đặc biệt là thế giới Hồi giáo chỉ nhìn Howard như là một
con két của Bush, và hầu như chính sách Iraq của Úc là photocopy theo thể “anh
sao, tôi vậy”. Howard đã mù quáng đặt nặng tình cảm cá nhân với Bush và xem đó
là điểm tựa căn bản cho mối quan hệ giữa 2 quốc gia, 2 lớp dân Úc và Hoa Kỳ.
Cách đây không lâu khi trả lời phỏng vấn trên chương trình Sunday của Đài
Truyền hình số 9, Howard đã phát biểu “Nếu mà tôi đang lãnh đạo Al-Queda tại
Iraq, tôi sẽ đánh dấu tháng 3.2008 và cầu nguyện không chỉ cho Obama mà luôn cho
đảng Dân chủ được chiến thắng”. Sau đó, ông lại biện minh là ông chỉ đả kích
Thượng Nghị sĩ Obama chớ không dính líu tới đảng Dân Chủ. Cho dù câu nói của ông
có được dịch ra bất cứ ngôn ngữ nào thì ý nghĩa của nó cũng rất là rõ ràng không
thể nào chối cãi được.
Nếu đã lỡ lời thì hãy lên tiếng xin lỗi, nhưng hình như hai tiếng “xin lỗi”
không có nằm trong từ vựng của ông Howard vì người Thổ Dân Úc vẫn còn chờ nghe
câu nói này xuất phát từ miệng ông sau hơn 200 năm chờ đợi. Khi bị các dân biểu
nghị sĩ của cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa của Hoa Kỳ nhắc nhở là đừng nên xen
vào chuyện nội bộ của họ, Howard lại giận dữ xoay qua tấn công lãnh tụ đối lập
và cho là Kevin Rudd đã hèn nhát từ chối không cho biết quan điểm của mình nếu
Hoa Kỳ sớm rút quân khỏi Iraq. Rudd trả đũa bằng cách thách đố Howard tranh luận
trên đài truyền hình quốc gia về chính sách Iraq của Tự Do và Lao Động.
Cuộc đấu võ miệng này của hai nhà lãnh đạo sẽ thật là khôi hài nếu như không
có hơn 60 ngàn người dân vô tội Iraq đã chết trong cuộc chiến và hàng tuần có
khoảng 100 người trong đó có vô số trẻ em thiệt mạng vì bom nổ tự sát. Howard
phản luận là ông không cần tranh cãi với Rudd trên đài truyền hình vì ông làm
chuyện đó mỗi ngày trong Quốc Hội. Nhưng Quốc Hội có phải là một diễn đàn nghiêm
chỉnh để các lãnh tụ tranh luận một cách đàng hoàng về các chính sách nghiêm
trọng liên hệ tới an ninh quốc gia hay không, hay chỉ là một kịch trường nơi mà
các kịch sĩ thi tài châm biếm nhau để lấy điểm và chứng minh mình là một hài
kịch gia xuất sắc như Tổng Trưởng Ngân Khố Peter Costello.
Riêng ông Rudd, cử tri có thể thoải mái dịu dàng với ông trong những ngày
tháng “trăng mật” ban đầu nhưng không thể dễ dãi hoài được. Với ước vọng làm Thủ
Tướng, ông phải nghĩ ra kế hoạch đóng trọn vai trò và trách nhiệm để tìm một
giải pháp và chính sách thích hợp cho Iraq cho dù với trên dưới 1000 quân, đóng
góp của Úc chỉ là một sự tượng trưng. Không thể nào bước vào nhà người ta đập bể
hết đồ kiếm không thấy tang vật rồi thì phủi tay xin lỗi bước ra. Những người Úc
gốc Việt chúng ta đã từng học bài học lịch sử cay đắng khi bị đồng minh bỏ rơi.
Chúng ta hãy cảm thông cho những người dân Iraq vô tội và cầu nguyện là họ sẽ
không phải trải qua một số phận nghiệt ngã như vậy. |