|
Thưở thiếu thời, Pamuk mơ ước trở thành một họa sĩ nhưng bỏ dỡ ý định đó
sau khi tốt nghiệp Kiến trúc sư từ Đại học Kỹ thuật Istanbul. Từ 1985 đến 1988,
Pamuk sang Hoa Kỳ tu nghiệp tại Đại học Columbia ở New York. Ông hiện sống ở
Istanbul.
Pamuk bắt đầu viết văn từ năm 1982, xuất bản khoảng tám tác phẩm (được dịch
ra hơn 40 thứ tiếng), vài lần bị truy tố về tội “xúc phạm danh dự Thổ Nhĩ Kỳ” vì
quan điểm của ông về lịch sử, được trao giải Nobel Văn chương 2006 ngày 12.10
vừa qua.
************************
Sự nghiệp văn chương của Orhan Pamuk bắt đầu thật giản dị. Ông kể lại thời
niên thiếu của mình, từ bối cảnh một gia đình Thổ Nhĩ Kỳ truyền thống chuyển
sang một lối sống Tây phương qua ba thế hệ. Tác phẩm đầu tay “Bóng tối và ánh
sáng” được xuất bản năm 1982 bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ là một bước dò dẫm về
phong cách và hướng đi của một văn tài mãi đến gần một phần tư thế kỷ sau mới
sáng rực trên văn đàn thế giới.
Tác phẩm thứ nhì, Sessiz Ev (1983), được dịch sang Anh ngữ là The House Of
Silence (Ngôi nhà của sự im lặng) năm 1992, được viết theo lối kể chuyện bởi năm
nhân vật khác nhau để mô tả hoàn cảnh của nhiều gia đình trước khi cuộc nội
chiến bộc phát. Thời điểm của câu chuyện là năm 1980 và những mối quan hệ đan
chéo nhau trong các câu chuyện này phản ảnh tình trạng hỗn loạn xã hội giữa
những âm mưu tranh giành quyền lực chính trị bởi các tổ chức cực đoan.
Pamuk bắt đầu được chú ý trên văn đàn quốc tế từ tác phẩm thứ ba của ông,
Beyaz Kale -1985 (bản dịch tiếng Anh là The White Castle – Tòa lâu đài màu
trắng, 1992). Đây là một quyển tiểu thuyết lịch sử được xây dựng trong bối cảnh
thế kỷ 17 ở Istanbul nhưng nội dung của nó lại là những vấn đề bản ngã con người
và sự hòa nhập văn hóa.
Những tác phẩm kế tiếp của Pamuk như The Black Book (Quyển sách đen, 1995),
The New Life (Đời mới (1996), và đặc biệt là hai quyển My Name Is Red (Tôi tên
là Đỏ, 2002) và Snow (Tuyết, 2004) đã đặt Pamuk vào vị trí những nhà văn đương
đại hàng đầu với những đề tài gay go như bản sắc cá nhân, cuộc đời thế tục và
đạo giáo, sự xung đột văn hóa và cá tính trong nghệ thuật.
Ngoài viết văn, Pamuk còn là một nhà bình luận về các vấn đề xã hội. Chính
trong lãnh vực này, ông trở thành đối tượng của nhiều sự chỉ trích gay gắt –
thậm chí còn bị truy tố – bởi các thế lực tôn giáo và chính quyền. Dù khẳng định
mình là một nhà văn không có tham vọng hoặc xu hướng chính trị nào nhưng Pamuk
luôn lãnh “những nhát kiếm sau lưng” vì lập trường dứt khoát của ông về quyền tự
do phát biểu. Ông là nhà văn đầu tiên trong các nước Hồi giáo đã lên tiếng phản
đối lệnh tử hình (fatwa) đối với nhà văn Salman Rushdie theo giáo luật. Ông cũng
đã công khai bênh vực cho đồng nghiệp Yasar Kemal khi ông này bị lôi ra tòa năm
1995. Và chính Pamuk đã bị truy tố về tội “xúc phạm danh dự quốc gia” khi ông
phát biểu trên một tờ báo Thụy Sĩ rằng đã có 30,000 người Kurds và 1 triệu người
Armenians bị giết chết trong cuộc thảm sát diệt chủng hồi Đệ nhất Thế chiến, hai
biến cố trọng đại mà cho đến nay Thổ Nhĩ Kỳ vẫn chưa có can đảm nhìn nhận. Theo
luật hình sự của Thổ Nhĩ Kỳ, công dân của họ sẽ bị coi là phạm tội nếu có ngôn
ngữ hoặc hành vi xúc phạm đến dân tộc, nền cộng hòa và quốc hội. Nhưng sự truy
tố Pamuk đã gây nên một làn sóng phản đối khắp nơi trên thế giới và cuối cùng,
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã phải bỏ qua.
Trong lời công bố trao giải Nobel Văn chương 2006 cho Pamuk, Viện Hàn lâm
Hoàng gia Thụy Điển ghi nhận: “Trong nỗ lực tìm kiếm mảnh hồn sầu muộn của thành
phố sinh trưởng của ông, Pamuk đã tìm thấy những biểu tượng mới về sự đụng chạm
và đan kết của các nền văn hóa...”
Pamuk là tác giả đầu tiên từ một nước Hồi giáo được trao giải Nobel Văn
chương kể từ khi tiểu thuyết gia Naguib Mahfouz của Ai Cập nhận được vinh dự này
cách đây 18 năm. Quyết định của Hàn lâm viện Hoàng gia Thụy Điển đã được nhiều
tổ chức nhân quyền và văn học quốc tế hoan nghênh như “một chiến thắng có ý
nghĩa của quyền tự do phát biểu” vì chính Pamuk từng là người bênh vực – và sau
đó trở thành nạn nhân – của chính sách kiểm duyệt. Phát ngôn viên của Hội Văn
bút Anh nói rằng giải Nobel năm nay trao cho Pamuk đã chứng tỏ Hàn lâm viện Thụy
Điển vinh danh cho những nhà văn can đảm bảo vệ cho sự tự do tư tưởng.
Nhà văn Harold Pinter, người được trao giải Nobel Văn chương năm ngoái, cũng
phát biểu: “Tôi thật sự vui mừng khi nghe tin Pamuk được trao giải. Tôi gặp ông
lần đầu vào năm 1985 khi cùng Arthur Miller đến Istanbul để thăm hỏi tình cảnh
của những nhà văn bên ấy... Pamuk là một nhà văn lớn và giải thưởng này thật là
xứng đáng.”
Tuy nhiên, quyết định trên cũng đã gây nên phản ứng khá mạnh từ những người
bảo thủ vì họ cho rằng Hàn lâm viện Thụy Điển “có khuynh hướng chống Mỹ” và đã
“chính trị hóa giải Nobel”. Người chiếm giải năm ngoái là nhà soạn kịch Anh
Harold Pinter, kẻ chỉ trích mạnh mẽ chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ và cuộc
chiến ở Iraq. Năm trước đó, giải được trao cho Elfriede Jelinek, một nhà phê
bình gay gắt của các chính trị gia bảo thủ và giai cấp thượng lưu trong xã hội
Áo.
Với quyết định của Hàn lâm viện Thụy Điển, Pamuk sẽ nhận được 10 triệu Kroner
(khoảng US$1.4 triệu), một tấm huy chương vàng và một chứng chỉ tại buổi dạ tiệc
trao giải ở Stockholm ngày 10.12, ngày giỗ của cha đẻ giải Nobel là Alfred
Nobel.
Pamuk, 54 tuổi, trả lời một cuộc phỏng vấn điện thoại sau khi nghe tin ông
được trao giải: “Tôi hết sức vui mừng! Nó không phải chỉ là một vinh dự cá nhân
mà còn là một niềm hãnh diện của nền văn chương Thổ Nhĩ Kỳ mà tôi hân hạnh được
chọn làm người đại diện.” Tuy nhiên, ông cũng “phàn nàn” chút đỉnh rằng cú điện
thoại báo tin đó đã đánh thức ông dậy vào lúc 6 giờ sáng: “Khi ấy, tôi chưa tỉnh
ngủ...” Pamuk chưa biết ông sẽ ăn mừng như thế nào, nhưng trước hết “kiếm vài
người bạn thân để chia xẻ niềm vui này cái đã!” |